Năm thứ tư, anh nhận được lời mời làm Quản lý cấp cao, thu nhập hàng năm cộng với tiền thưởng vượt con số 7 chữ số.
Tiệc mừng công được tổ chức tại nhà hàng trên tầng cao nhất của tòa nhà Quốc Mậu 3, anh mời cả nhóm dự án đến.
Anh bảo tôi đi cùng.
Nhưng anh nói một câu: “Hôm nay toàn là đồng nghiệp, em ngồi ở bàn gần cửa, giúp anh tiếp đón những người đến muộn nhé.”
Tiếp đón.
Không phải “em ngồi cạnh anh”, không phải “anh giới thiệu em với mọi người”, mà là “em đứng ở cửa giúp anh chào hỏi khách.”
Hôm đó tôi mặc một chiếc váy nhung màu xanh thẫm, tóc được búi rất chỉn chu.
Nhưng từ đầu đến cuối, tôi không hề được ngồi cạnh anh, cũng chẳng được anh giới thiệu với bất kỳ ai.
Tôi đứng ở cửa suốt một tiếng đồng hồ, chào hỏi hơn chục đồng nghiệp đến muộn, chỉ chỗ ngồi cho họ, rót nước cho họ.
Người cuối cùng đến là một cô gái tên Lục Tư Kỳ, xuất thân từ ngân hàng đầu tư nước ngoài, mặc bộ vest màu trắng kem, khí chất sắc sảo như một lưỡi d/ao vừa tuốt vỏ.
Lúc bước vào, cô ấy liếc nhìn tôi, cười khách sáo rồi hỏi: “Cô là nhân viên phục vụ ở đây à?”
Tôi đáp: “Không phải. Tôi là bạn của Kỷ Lâm Châu.”
Cô ấy nhướng mày, không nói gì thêm, đi thẳng về phía bàn chính.
Tôi nhìn thấy Kỷ Lâm Châu đứng dậy kéo ghế cho cô ấy. Động tác đó vô cùng tự nhiên, tự nhiên như thể anh đã làm điều đó cả đời.
Kể từ ngày đó, tôi bắt đầu nghi ngờ một vấn đề.
Kỷ Lâm Châu, rốt cuộc anh có coi tôi là bạn gái của anh không?
Hay anh chỉ cần một người đứng ở cửa giúp anh tiếp đón khách khứa?
Năm thứ năm, mẹ anh chính thức từ Quảng Châu chuyển đến Bắc Kinh.
Lần gặp mặt chính thức đầu tiên diễn ra trong căn biệt thự mới m/ua ở Thuận Nghĩa của Kỷ Lâm Châu.
Bố anh là cán bộ cấp sở, từng luân chuyển qua ba tỉnh, qu/an h/ệ rộng rãi.
Mẹ anh là phó giáo sư tại một trường đại học trọng điểm quốc gia, hình như nghiên c/ứu về văn học phương Tây.
Lần đầu gặp bà, tôi cúi chào 90 độ, nói con tên là Tống Thời Kính, bác cứ gọi con là Thời là được.
Bà nhìn tôi qua mép tách trà, gật đầu, không nói gì.
Suốt bữa cơm đó, bà chỉ nói chuyện với Kỷ Lâm Châu, thỉnh thoảng nói với chồng, tuyệt nhiên không nhìn tôi lấy một lần.
Tôi rót trà cho bà, bà chỉ buông một câu: “Để đó đi.”
Tôi gắp thức ăn cho bà, bà gắp miếng sườn đó ra để ở rìa đĩa, không hề đụng đến.
Ăn xong, Kỷ Lâm Châu đi tiễn bố anh. Trong phòng chỉ còn lại tôi và mẹ anh.
Bà đặt tách trà xuống, cuối cùng cũng nhìn thẳng vào tôi.
“Cô Tống,” bà nói, giọng điệu bình thản, “Chuyện cô ở bên con trai tôi, tôi không phản đối.
Nó cần một người có thể chăm sóc nó.
Nhưng tôi hy vọng cô hiểu một điều—con đường tương lai của Lâm Châu còn rất dài, sự nghiệp, tài nguyên xã hội, gia thế của nó, thứ nó cần là một người có thể sánh bước cùng nó, chứ không phải một người cần nó phải dắt tay đi.
Cô hiểu ý tôi chứ?”
Tôi siết ch/ặt quai túi trên đầu gối.
“Con hiểu.”
Bà hài lòng gật đầu, bưng tách trà lên, tư thế nâng chén ấy là một lệnh đuổi khách đầy ẩn ý.
Đêm đó rời khỏi biệt thự, Kỷ Lâm Châu lái xe đưa tôi về. Suốt chặng đường tôi không nói một lời.
Anh chắc là nhận ra điều gì đó, đặt một túi quà lên đầu gối tôi.
Tôi mở ra xem, một chiếc khăn lụa Hermes. Hộp màu cam, ruy băng trắng.
Anh nói: “Tính tình mẹ anh thẳng thắn, em đừng so đo với bà.”
Một phiên bản khác của câu “em bớt nói vài câu đi”.
Cùng một ý nghĩa, cùng một công thức.
Tôi nhìn chiếc khăn lụa đó, bỗng thấy thật nực cười.
Đây chính là cách Kỷ Lâm Châu giải quyết vấn đề.
Anh không bao giờ giải quyết vấn đề, anh chỉ bù đắp—bù đắp bằng vật chất, bằng một chiếc khăn lụa, bằng một câu “đừng so đo với bà”.
Nhưng anh chưa bao giờ nói giúp tôi dù chỉ một lời trước mặt mẹ anh.
Đêm hôm đó, tôi cất chiếc khăn vào ngăn cuối cùng của tủ quần áo.
Đến tận bây giờ, tôi chưa từng thắt nó một lần nào.
Năm thứ sáu, cũng chính là năm nay.
Anh chính thức đề nghị kết hôn với tôi.
Nói là “đề nghị”, vì nó thực sự chẳng giống một màn cầu hôn chút nào.
Ngày đó anh ngồi trên ghế sofa căn hộ của tôi, vừa gọi điện thoại xong, anh đặt điện thoại lên bàn trà, cầm chén trà tôi pha cho anh uống một ngụm.
Tôi đang dùng máy tính sửa bản thiết kế, nghe thấy giọng anh bình thản nói một câu:
“Mẹ anh bảo cũng đến lúc chốt lại rồi. Tháng sau sắp xếp cho hai bên gia đình gặp mặt, tháng 5 cưới.”
Tôi ngẩng đầu lên, cây bút lơ lửng trong tay.
“Anh đang hỏi ý kiến em sao?”
Anh nhìn tôi, cười một cái, nụ cười lịch sự vô cùng chuẩn mực: “Anh đang thông báo cho em.”
Tôi đặt bút xuống. Có thứ gì đó trong lòng tôi, sợi dây căng ra suốt 6 năm ấy, “bụp” một tiếng, đ/ứt đoạn.
Nhưng tôi vẫn mỉm cười gật đầu.
Vì tôi vẫn chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Tôi vẫn chưa biết, ngày dạm hỏi đó anh sẽ nói ra câu nói kia.
Ngày dạm hỏi, tiết Lập Xuân.
Mẹ tôi dọn dẹp nhà cửa như thể sắp đón tiếp một nhân vật lớn.
Bóng đèn phòng khách được thay mới,
rèm cửa giặt ủi phẳng phiu, đĩa trái cây trên bàn trà được bày biện còn ngăn nắp hơn cả ngày Tết.
Bố tôi mặc bộ vest màu xám đậm mà ông chỉ mặc khi đi dự tiệc cưới con cái của đồng nghiệp, cà vạt do chính tay ông thắt, hơi lệch một chút, nhưng vô cùng nghiêm túc.