Chỉ là hôm nay, âm cuối của câu gọi khẽ vút lên, mang theo chút không chắc chắn.
Tôi xoay người lại.
Kỷ Lâm Châu đứng cách cửa xoay ba mét.
Anh mặc một chiếc áo khoác dạ màu xám tro, tóc c/ắt ngắn hơn một chút, so với hai năm trước không thay đổi nhiều, nhưng nơi đuôi mắt đã xuất hiện những nếp nhăn mảnh mà trước đây chưa từng có.
Bên cạnh anh là một người đàn ông đeo kính, chắc là đồng nghiệp, đang nhìn anh rồi lại nhìn tôi với vẻ mặt đầy khó hiểu.
Tôi mỉm cười lịch sự: “Thật trùng hợp.”
Anh nói: “Anh đến dự tiệc tối. Không biết em cũng ở đây.”
Nói xong, anh im lặng vài giây, ánh mắt từ mặt tôi chuyển xuống chiếc hộp nhỏ hình chữ nhật trong tay—không đúng, đó không phải hộp, là chiếc cúp mạ vàng, trên đó khắc dòng chữ “Studio mới xuất sắc nhất”, bên dưới là một dòng chữ nhỏ: Thiết kế Kính Kiến.
Tống Thời Kính.
“Em được giải sao?” Giọng anh bất chợt chùng xuống, không còn vững vàng.
“Đúng vậy,” tôi đáp, “Tôi mở một studio thiết kế, tên là Kính Kiến. Ở Hạ Môn.”
“Kính Kiến.” Anh lặp lại, như đang nếm thử một loại trái cây lạ lẫm.
“Đúng. Kính trong tấm gương, Kiến trong nhìn thấy.”
Lấy gương soi tâm. Còn một ý nghĩa nữa tôi không nói cho anh biết—Thời Kính. Lấy thời gian làm gương, mới biết được mất là gì.
Có lẽ anh cũng đồng thời nghĩ đến tầng nghĩa này, biểu cảm trên mặt thay đổi rõ rệt.
Trên gương mặt vốn được mài giũa qua vô số cuộc đàm phán thương mại, luôn không chút sơ hở ấy, xuất hiện một vết nứt cực kỳ nhỏ, gần như không thể nhìn thấy.
Anh nhìn chằm chằm vào chiếc cúp của tôi lần nữa, yết hầu chuyển động, rồi nhìn người đồng nghiệp đeo kính bên cạnh nói: “Cậu lên trước đi, tôi đến ngay.”
Người đồng nghiệp nhìn tôi, rồi nhìn anh, thức thời rời đi.
Chỉ còn lại hai chúng tôi.
Cơn gió đêm mùa đông Bắc Kinh lùa qua giữa các tòa nhà Quốc Mậu. Tôi vô thức kéo ch/ặt cổ áo khoác.
Anh lên tiếng trước: “Mẹ anh mất năm ngoái rồi.”
Tôi sững người. Mẹ anh rất mạnh mẽ, vậy mà nói đi là đi.
“U/ng t/hư tuyến tụy. Phát hiện ra đã ở giai đoạn cuối, chống chọi được chưa đầy nửa năm.”
“Xin chia buồn cùng anh.”
“Trước khi đi, bà nói với anh một câu.” Anh cúi đầu nhìn mũi giày mình, “Bà nói điều hối h/ận nhất đời bà chính là đã nói em không xứng bước chân vào cửa nhà họ Kỷ.”
Tôi nắm ch/ặt chiếc cúp.
“Bà nói bà sống sáu mươi năm, ngạo nghễ suốt năm mươi chín năm. Năm cuối cùng nằm trên giường b/ệnh mới hiểu ra—người có thể ở bên con trai bà suốt sáu năm, đã là kẻ ngốc nhất thế giới này rồi. Tiếc là bà hiểu quá muộn, đã đuổi người ta đi mất.”
Giọng anh hơi khàn.
Tôi im lặng một hồi.
“Kỷ Lâm Châu, anh có biết không,” tôi nói, “Mẹ anh trước khi đi đã tỉnh ngộ. Còn anh thì sao? Anh tỉnh chưa?”
Anh không trả lời ngay. Gió thổi cánh cửa xoay phía sau anh quay vòng vòng, phát ra tiếng ầm ầm khe khẽ.
“Cánh cửa nhà họ Kỷ của các người quá cao. Trước đây tôi cứ tưởng là do mình thấp. Sau này mới biết, không phải cửa cao, mà là do tôi đứng sai chỗ. Tôi nên đứng ngoài cửa—đứng ở nơi có thể tự do hít thở. Mẹ anh có một câu nói đúng. Hôn nhân là chuyện của hai gia đình. Nhưng bà đã hiểu sai hướng. Bà tưởng chuyện này là nói về việc gia đình các người tiếp nhận tôi. Nhưng thực ra ý nghĩa của nó là—tôi phải tiếp nhận chính mình trước.”
“Mẹ anh muốn tôi nghỉ việc về nhà, bà sợ tôi làm mất mặt nhà họ Kỷ. Nhưng hôm nay, người đứng đây cầm chiếc cúp rá/ch nát này đang đứng ngoài cửa nhà anh. Không cần phải để bất kỳ ai lựa chọn.”
Tôi chuyển cúp sang tay trái, đưa tay phải ra.
“Rất vui được gặp lại anh, Kỷ Lâm Châu.”
Anh cúi đầu nhìn những ngón tay tôi. Những ngón tay từng nấu cháo, ủi sơ mi, sửa PPT cho anh, đã theo anh suốt sáu năm.
Rồi anh đưa tay ra, bắt lấy tay tôi. Bàn tay anh rất lạnh, ngón áp út không có gì cả.
“Tống Thời Kính.” Anh lên tiếng khi tôi vừa xoay người.
Tôi dừng lại.
“Năm đó em hỏi anh, có khoảnh khắc nào dù chỉ một giây anh tôn trọng em không. Lúc đó anh không trả lời. Bây giờ anh trả lời em—người anh không tôn trọng chưa bao giờ là em. Mà là chính anh. Bởi vì chỉ ở nơi em không nhìn thấy anh, anh mới dám thừa nhận—anh không xứng với em.”
Tôi quay lại nhìn anh.
“Ba năm nay tôi luôn muốn hỏi một câu—lúc đó anh hy vọng tôi rời đi như vậy, tại sao còn gọi điện đuổi theo đến tận Hạ Môn?”
Anh im lặng rất lâu, cuối cùng ngước mắt lên.
“Bởi vì anh biết người phụ nữ mặc váy xanh thẫm, đứng ở cửa giúp anh tiếp khách đó, là người anh không nên đá/nh mất nhất trong đời này. Anh đã đá/nh mất rồi.”
Tôi hít sâu không khí khô lạnh của Bắc Kinh, thở hoàn toàn ra khỏi lồng ng/ực.
“Kỷ Lâm Châu, nếu có ngày anh đi ngang qua tiệm của chúng tôi, tôi mời anh uống trà. Kính Kiến—tự nhiên nhé.”
Rồi tôi quay lưng đi về phía chiếc xe công nghệ đang đợi bên đường, không hề ngoái đầu lại.
Lại một năm nữa trôi qua.
Studio của tôi từ cửa tiệm nhỏ ba mươi mét vuông ở Cổ Lãng Tự đã chuyển đến một khu sáng tạo đàng hoàng trên đảo chính Hạ Môn, đội ngũ mở rộng lên hai mươi người, mảng kinh doanh từ cải tạo nhà ở mở rộng sang các không gian thương mại nhỏ.
Quý Hòa nói giờ đây mỗi bước chân tôi đi đều mang theo gió.
Khi nói chuyện, nụ cười của tôi đã trở nên dứt khoát hơn.