Nàng bĩu môi, bỗng tiến lại gần hơn: "Ta đưa ngươi đến một nơi. Ngoại tổ nhà ta ở Tô Châu, từ kinh thành đi đường thủy mất nửa tháng, đường bộ mười ngày. Ngoại tổ mẫu thương ta nhất, ta viết một phong thư ngươi mang theo, bà ấy chắc chắn sẽ thu nhận ngươi. Ngươi muốn làm việc cũng được, muốn nghỉ ngơi cũng được, tùy ngươi."
Thiếp sững sờ.
"Văn tiểu thư, thiếp..."
"Đừng gọi ta là tiểu thư." Nàng xua xua tay, "Gọi ta là Văn Ngâm là được. Ngươi cũng đừng nghĩ nhiều, ta không phải thương hại ngươi. Ta chỉ là cảm thấy, người muốn đi mà không đi được thì nhiều vô kể, ngươi dám đi, ta giúp ngươi một tay, coi như thay cái người không đi được ấy mà trút gi/ận."
Lời nàng nói tuy tùy ý, nhưng thiếp nghe ra sự chân thành bên dưới.
Xe ngựa chạy trong đêm khoảng nửa canh giờ thì dừng lại trước một trạm dịch. Văn Ngâm nhảy xuống xe, lấy từ trên lưng ngựa xuống một tay nải bằng vải gấm nhét vào tay thiếp.
"Hai bộ áo quần thay đổi, còn có hai mươi lạng bạc vụn, đừng từ chối." Nàng ấn tay thiếp lại, "Nếu ngươi thấy áy náy, thì coi như ta cho ngươi mượn, sau này ngươi phát tài rồi trả lại."
Thiếp há miệng, cuối cùng không từ chối nữa. Thiếp ôm tay nải vào lòng, cúi đầu nói cảm ơn, giọng hơi nghẹn ngào.
Văn Ngâm vỗ vai thiếp: "Tiến về phía trước, đừng ngoảnh đầu lại."
Nàng quay người lên ngựa, chiếc xe ngựa màu đỏ chu sa quay đầu, tiếng chuông bạc leng keng dần xa.
Thiếp đứng trước cửa trạm dịch, ôm tay nải vải gấm, nhìn vệt màu đỏ ấy tan biến vào màn đêm, bỗng nhớ tới sư nương. Sư nương thiếp chưa từng gặp mặt - người đã đi trước khi sư phụ nhận nuôi thiếp, sư phụ bảo người đã đến một nơi rất xa không trở về nữa. Nhưng thiếp nghĩ, nếu người còn sống, chắc cũng sẽ nói với sư phụ câu này.
Tiến về phía trước, đừng ngoảnh đầu lại.
Thiếp không ở lại trạm dịch suốt đêm. Không phải tiếc tiền, mà sợ người của Bùi Nghiễn Chiêu đuổi theo dọc đường quan đạo. Đi khoảng hai canh giờ, khi trời tờ mờ sáng thì nghỉ chân tại một ngôi miếu hoang bên đường.
Lấy tay nải làm gối, chiếc hồ lô đồng nhỏ của sư phụ nắm trong lòng bàn tay, cứ thế mà tạm bợ qua một đêm.
Trời vừa hửng sáng đã tỉnh. Múc nước suối sau miếu rửa mặt, lấy lương khô trong tay nải ra gặm hai miếng rồi tiếp tục đi.
Đi suốt ba ngày, lòng bàn chân phồng lên mấy vết nước. Chiều ngày thứ tư, thiếp dừng chân tại một quán trọ ở thị trấn bên đường quan đạo, bà chủ là người đàn bà tầm bốn mươi tuổi, thấy thiếp một thân một mình, chẳng hỏi han gì liền bảo tiểu nhị thêm một tấm chăn. Thiếp hỏi bà đường đi Tô Châu, bà bảo đi về phía nam thêm nửa ngày là đến bến đò, có thuyền đi Tô Châu, phí tổn hai lượng bạc.
Sáng sớm hôm sau, thiếp lên thuyền xuôi nam.
Thuyền lắc lư trên mặt nước bảy tám ngày, thiếp tựa vào mạn thuyền, lật đi lật lại cuốn sổ nhỏ sư phụ để lại vô số lần. Người viết về Tô Châu - lối thêu Ngô Môn, thiên hạ vô song, Xuân Tỉnh có thể học. Dòng chữ ấy vẹo vọ, người vốn quen viết chữ đại tự, viết chữ nhỏ cứ không dùng hết sức được.
Thiếp khép cuốn sổ lại, nhìn màn sương lững lờ trên mặt sông, lòng bỗng thấy an yên. Như thể sư phụ đã sớm dò đường cho thiếp, thiếp chỉ việc thuận theo mà đi.
Ngày đến Tô Châu trời đổ mưa phùn. Thiếp cầm thư của Văn Ngâm, hỏi đường đến nhà họ Thẩm ở phía Đông thành. Thẩm lão phu nhân xem xong thư, tháo kính lão xuống, nhìn thiếp từ đầu đến chân một lượt rồi bỗng bật cười.
"Nha đầu Ngâm Nhi trong thư khen ngươi như hoa như ngọc, bảo ngươi võ công cao cường, tính tình bướng bỉnh, dám đứng trước mặt bàn dân thiên hạ mà cãi lại vị hôn phu của nó." Bà gấp thư bỏ vào tay áo, "Nó thích những kẻ xươ/ng cứng như ngươi lắm."
Lão phu nhân sắp xếp cho thiếp chỗ ở - một gian sương phòng đ/ộc lập ở hậu viện phủ Thẩm, rộng rãi hơn tiểu viện ở phủ Vệ Quốc Công, đẩy cửa sổ ra là thấy một rừng trúc nhỏ.
Những ngày đầu thiếp chỉ làm một việc: dạo quanh thành Tô Châu.
Thiếp đi dạo xưởng thêu, cửa hàng tơ lụa, chợ búa, hội chùa, đi hết những nơi sư phụ ghi trong sổ. Đồ thêu ở Tô Châu quả nhiên khác với Thái Thương, tinh tế nhã nhặn, mũi kim phức tạp. Đồ thêu ở Thái Thương chuộng sự bền chắc, còn ở Tô Châu lại chuộng sự tinh xảo linh động.
Trở về, thiếp thưa với Thẩm lão phu nhân là muốn tìm một xưởng thêu để làm việc.
Lão phu nhân không ngăn cản, chỉ dặn thiếp đừng đến những nơi quá hẻo lánh.
Thiếp tìm được một chỗ làm tại cửa hiệu "Cẩm Tú Phường" ở phía Nam thành, tiền công không thấp, một tháng năm tiền bạc. Ban đầu chỉ cho thiếp làm việc thô - phân chỉ, căng khung, vẽ phác thảo.
Làm được nửa tháng, bà chủ quản sự bỗng gọi thiếp lại, chỉ vào bức "Điệp Luyến Hoa" thêu dở trên giá hỏi thiếp có nhận được không.
"Sư phụ thêu khăn này phải về quê chịu tang, đi được nửa chừng thì người đi mất, khách hàng lại giục gấp. Ta thấy cách phân chỉ của ngươi không giống kẻ mới vào nghề, có muốn thử không?"
Thiếp gật đầu nhận lời.
Ngày đó thiếp ngồi trước giá thêu, cầm kim thêu, ngón tay bỗng run lên. Hai năm rồi, hai năm không thêu thùa tử tế. Ở phủ Vệ Quốc Công, thiếp ngay cả kim chỉ cũng chẳng dám đụng vào, sợ các tiểu thư chê tay thiếp thô kệch, sợ sư huynh chê thiếp mất mặt.
Nhưng vừa cầm kim lên, cơ bắp đầu ngón tay đã nhớ ra cách đi kim còn nhanh hơn cả n/ão.
Khâu viền, trải chỉ, nối chỉ, thêu hạt, những thứ sư phụ dạy đều đã khắc sâu vào xươ/ng tủy rồi.