Sau đó, tôi nghe thấy bà ấy dùng chút sức lực cuối cùng hỏi một câu: "Vân Tình, con có trách mẹ không?"
Tôi nhìn bà, nhìn hốc mắt trũng sâu, làn da vàng vọt và đôi môi nứt nẻ ấy. Tôi muốn nói "có". Trách bà chưa bao giờ lên tiếng bảo vệ mình, trách bà chỉ đứng nhìn khi tôi bị m/ắng nhiếc, trách bà đã ký vào tờ đơn từ bỏ c/ứu chữa, trách bà đã im lặng suốt những năm tháng tôi cần mẹ nhất. Thế nhưng, những lời ấy nghẹn lại nơi cổ họng, chẳng sao thốt nên lời.
Tôi lắc đầu.
Mẹ tôi mỉm cười. Nụ cười ấy còn khó coi hơn cả tiếng khóc, khóe miệng chỉ khẽ động đậy một chút, dường như đến cả sức lực để cười bà cũng chẳng còn. Rồi tôi nhìn đôi mắt bà từ từ khép lại, ánh sáng trong đó thu lại từng chút một, cuối cùng tắt hẳn. Tôi không biết phải phản ứng thế nào, chỉ đứng lặng người ở đó, nắm ch/ặt bàn tay đã chẳng còn sức lực, lạnh ngắt ấy.
Tôi quay sang nhìn người bố đang ngồi thẫn thờ bên cạnh. Ông ta hiếm khi không nói gì với tôi, ngay cả khi tôi xoay người rời đi, ông ta cũng không ngăn cản.
Hành lang rất dài. Những bóng đèn trên trần nhà lần lượt sáng lên, ánh sáng trắng bệch soi rọi cả lối đi như một đường hầm không lối thoát. Một y tá đẩy xe đi ngang qua tôi, bánh xe nghiến lên khe gạch phát ra tiếng "cộc cộc". Từ một phòng b/ệnh nào đó, tiếng khóc nghẹn ngào, đ/ứt quãng và mơ hồ vang lên.
Hứa Trầm Chu đi theo sau tôi, suốt dọc đường không hề mở lời.
Bước ra khỏi tòa nhà nội trú, gió bên ngoài rất mạnh. Mặt trời đã xế bóng, đổ bóng tòa nhà dài dằng dặc xuống mặt đất, một mảng đen ngòm. Tôi đứng ở rìa cái bóng ấy, hít một hơi thật sâu. Trong không khí vẫn còn thoang thoảng mùi th/uốc sát trùng.
Tôi nhìn cây long n/ão đằng xa, nhìn rất lâu.
"Hứa Trầm Chu," tôi nói, "vừa rồi ở bên trong, tôi không rơi một giọt nước mắt nào. Mẹ tôi ch*t rồi, tôi không khóc. Cậu nói xem, có phải tôi quá m/áu lạnh không?"
Hứa Trầm Chu nhìn tôi: "Không phải."
Cậu vươn tay, nắm lấy tay tôi trong lòng bàn tay mình: "Không phải em không đ/au lòng. Mà là em đã chịu tổn thương quá nhiều lần rồi."
Tôi nhìn cậu, hốc mắt cuối cùng cũng đỏ hoe. Tôi cúi đầu, nhìn hai bàn tay đang đan vào nhau: "Đi thôi. Chúng ta về thôi."
Chỉ vừa bước được hai bước, phía sau vang lên một tiếng gọi: "Cô bé, đợi chút."
Tôi nghi hoặc quay đầu lại, người gọi tôi là một người phụ nữ lạ mặt chưa từng gặp bao giờ. Cô ấy mặc đồ b/ệnh nhân, sắc mặt hơi tái nhợt: "Đây là mẹ cô đưa cho cô."
Người phụ nữ đưa ra một cuốn sổ tiết kiệm: "Mẹ cô nói, cái này không được để bố cô biết. Bà ấy đã chắt chiu rất lâu. Bà ấy bảo cả đời này chưa cho cô được gì, cái này cô nhất định phải cầm lấy. Bà ấy còn bảo cô sau này phải sống thật tốt."
"Sống thật tốt". Bốn chữ ấy thốt ra từ miệng một người b/ệnh, nhẹ tựa lông hồng nhưng lại nặng nề giáng xuống trái tim tôi. Tôi không nói rõ được cảm giác đó là gì, chỉ thấy lồng ng/ực nặng trĩu, khiến tôi khó thở.
Tôi cúi nhìn những con số trên sổ tiết kiệm. Người phụ nữ cả đời chưa từng phản kháng chồng mình ấy, trong những ngày cuối đời đã giấu tất cả mọi người, chắt chiu từng đồng một. Bà tiết kiệm rất chậm, vài chục đồng một lần, có khi vài tháng mới gửi được một khoản. Khoản cuối cùng là từ ba tháng trước, số tiền không lớn, vừa vặn là một con số chẵn. Nhưng tổng cộng cũng chỉ có sáu nghìn năm trăm tệ.
Tôi siết ch/ặt cuốn sổ trong tay, bìa sổ hằn lên lòng bàn tay, hơi đ/au. Tôi rất muốn nói: "Con không cần."
Nhưng lời đến đầu môi lại hóa thành những giọt nước mắt không tiếng động.
Hóa ra không phải bà không yêu tôi, mà tình yêu ấy quá mỏng manh, mỏng đến mức không đủ sức để phản kháng, mỏng đến mức chỉ có thể dùng cách hèn mọn này để thể hiện ở những giây phút cuối đời.
Người phụ nữ kia rời đi, vịn tường bước từng bước một, rất chậm rãi. Bộ đồ b/ệnh nhân treo lỏng lẻo trên người bà như cánh buồm căng gió. Bà không ngoảnh lại, chắc là không đành lòng nhìn.
Hứa Trầm Chu đứng bên cạnh, vươn tay ôm lấy vai tôi: "Mẹ em, thực ra vẫn yêu em."
Giọng Hứa Trầm Chu rất khẽ, như đang nói về một điều chính cậu cũng không chắc chắn.
Tôi gật đầu, không nói gì, chỉ đưa tay lau sạch nước mắt.
Hứa Trầm Chu nhìn quanh một lượt, rồi chuyển chủ đề một cách hơi vụng về để đá/nh lạc hướng tôi: "Hồi đó anh đã ở ngay đây, tìm ki/ếm những mảnh giấy vụn đó. Trên bãi cỏ, bên bồn hoa, trong kẽ gạch, dưới bụi cây. Tìm từng mảnh một, nhặt được một mảnh lại nắm ch/ặt trong lòng bàn tay rồi đi tìm mảnh tiếp theo. Người đi đường đều tưởng anh đi/ên rồi."
Tôi nhìn theo ánh mắt cậu. Cỏ trên sân đã thay mấy lượt, vệt m/áu đen sẫm ngày đó đã sớm chẳng còn, bị nước mưa rửa trôi, bị đất mới lấp đầy, bị thời gian xóa nhòa.
Nhưng tôi biết nó vẫn ở đó, ở một nơi rất sâu, tựa như một vết s/ẹo vĩnh viễn không thể khép miệng, không nhìn thấy, nhưng vẫn luôn tồn tại.
"Lúc đó, tôi từng nghĩ nơi này là điểm cuối." Giọng tôi rất khẽ, như đang tự nhủ với chính mình: "Tôi đứng trên sân thượng, gió rất lớn, thổi đến mức cả người tôi chao đảo."