Mẹ tôi mất khi tôi còn rất nhỏ.

Bố tôi chưa bao giờ nhắc đến bà.

Ông nhìn ra ngoài bầu trời xám xịt.

“Đêm con chào đời, mẹ con mất rất nhiều m/áu.”

“Bà ấy lẽ ra không sống nổi.”

“Bà con đã dùng chiếc kéo trong hòm, c/ắt đ/ứt một sợi dây không đáng lẽ còn lưu lại trên người.”

“Mẹ con đã sống thêm được ba năm.”

“Nhưng sợi dây ấy, đã ghi dấu lên người con.”

Toàn thân tôi lạnh toát.

Vết hằn đỏ trên cổ tay bỗng nóng rực lên.

Bố tôi còn muốn nói gì đó, ngoài cửa lại vang lên ba tiếng gõ nhẹ.

Không phải gõ bằng tay.

Như tiếng khóa hòm gỗ va vào cánh cửa.

Cạch.

Cạch.

Cạch.

Bố tôi tái mặt.

Tôi bước đến bên cửa.

Dưới khe cửa, một tờ giấy đỏ từ từ được nhét vào.

Trên giấy đỏ chỉ có một dòng chữ.

Còn năm năm.

Bố tôi ra đi vào mùa đông năm ấy.

Trước lúc lâm chung, ông nắm ch/ặt cổ tay tôi, dặn đi dặn lại một điều.

“Đừng về làng.”

“Đừng mở cửa sau.”

“Đừng chạm vào chiếc hòm ấy.”

Tôi gật đầu.

Nhưng ông vẫn không yên tâm.

Ông bảo tôi ghé sát tai vào.

Ông nói: “Hai chữ cuối cùng của bà con, không phải là đừng khóc.”

Tôi nín thở.

Môi ông r/un r/ẩy dữ dội.

“Cũng không phải đừng đi.”

Tôi vội hỏi: “Vậy là gì?”

Ông nhìn lên trần nhà, như thể nơi đó đang đứng một người ông không dám nhìn thẳng.

Ngoài cửa sổ bỗng đổ tuyết.

Hạt tuyết đ/ập vào ngói, lách tách.

Ông há miệng.

Nhưng giọng nói lại đ/ứt đoạn trong cổ họng.

Một ngụm m/áu đen trào ra.

Tôi ôm ông gào đến khản cổ.

Ông vĩnh viễn không thể nói hết hai chữ ấy.

Sau khi lo liệu tang lễ, tôi tiếp tục đỡ đẻ trong trấn.

Tôi không muốn thừa nhận mình sợ tờ giấy đỏ ấy.

Nhưng từ đó về sau, mỗi lần đỡ đẻ, tôi đều tính ngày.

Năm năm.

Hơn một nghìn tám trăm đêm.

Nó như một sợi chỉ mảnh, quấn ch/ặt trong tim tôi.

Năm tôi hai mươi lăm tuổi, tôi đã trở thành bà đỡ nổi tiếng nhất khắp vùng mấy chục dặm.

Mọi người không còn gọi tôi là con bé nhà họ Khương nữa.

Họ gọi tôi là Bà Khương nhỏ.

Lần đầu tiên nghe thấy danh xưng ấy, tôi đứng ngẩn người trước cửa phòng sinh rất lâu.

Tôi như thấy bà khoác áo vải xanh, ngoái lại cười với tôi trong đêm tuyết.

Nhưng nụ cười ấy chỉ thoáng qua.

Khoảnh khắc sau, tôi lại thấy đầu gối trầy nát và miệng đầy m/áu của bà.

Tôi bắt đầu kén chọn khách hàng khắt khe hơn.

Đêm đến mời, phải đi cùng từ ba người trở lên.

Không nói rõ tên làng tên hộ, tôi không đi.

Xe kéo đến mời, tôi không lên.

Người đội nón lá che mặt, tôi không mở cửa.

Tôi tưởng làm vậy là có thể trốn thoát.

Nhưng có những con đường không phải do chân bước.

Nó sẽ tự dịch chuyển đến trước cửa nhà.

Năm ấy, hai mươi tám tháng Chạp, lại đổ một trận tuyết lớn.

Giống hệt đêm bà gặp nạn.

Ban ngày tôi vừa đỡ đẻ cho một sản phụ phía đông trấn, sinh một bé gái.

Đứa trẻ lọt lòng khóc rất khẽ.

Tôi dùng ngón tay búng nhẹ vào lòng bàn chân, nó mới òa khóc.

Chồng sản phụ mừng rỡ lau nước mắt.

Mẹ chồng chị lại đứng ở cửa, im lặng không nói.

Tôi bế đứa trẻ đến trước mặt bà.

“Con gái cũng là một mạng sống.”

Bà mẹ chồng ngượng ngùng, quay người bỏ đi.

Tôi rửa sạch tay, xách hòm gỗ về nhà.

Chiếc hòm của tôi là tự làm sau này.

Không lớn, bên trong đựng kéo sạch, vải trắng, chỉ bông, rư/ợu mạnh và tro thảo dược.

Chiếc hòm cũ của bà, tôi chưa từng thấy lại.

Tôi tưởng nó vẫn còn ch/ôn dưới nền bếp nhà cũ.

Nhưng đêm đó vừa về đến nhà, tôi vừa đẩy cửa ra, đã ngửi thấy mùi tanh ngọt quen thuộc.

Bên cạnh bếp đặt một chiếc hòm gỗ cũ.

Thân hòm ngả đen, các góc cạnh mài đến bóng loáng.

Nắp hòm có một vết nứt cũ.

Tôi đứng ở cửa, chân như đóng băng.

Tôi không bước vào.

Tôi quay người định bỏ đi.

Cổng sân lại tự đóng sầm.

Then cửa rơi xuống, tiếng nặng như nắp qu/an t/ài khép lại.

Ngọn đèn thờ trong nhà bỗng sáng lên.

Rõ ràng tôi chưa bao giờ thắp thứ ấy.

Ánh đèn chiếu vào chiếc hòm cũ.

Nắp hòm từ từ hé mở.

Bên trong xếp ngay ngắn kéo, vải trắng, chỉ bông, rư/ợu, cùng một gói nhỏ tro thảo dược.

Giống hệt như năm xưa của bà.

Phía dưới cùng đ/è lên nửa chiếc yếm vải xanh.

Chữ Khương trên đó méo mó.

Là do tôi thêu hồi nhỏ.

Tôi từng bước bước tới.

Vết hằn đỏ trên cổ tay nóng như lửa đ/ốt.

Trong hòm không có chữ m/áu.

Chỉ có một tờ giấy vàng được gấp lại.

Tôi mở tờ giấy vàng ra.

Trên đó viết tên một ngôi làng.

Chính là ngôi làng cũ tôi đã rời đi mười lăm năm.

Phía dưới còn một dòng chữ nhỏ.

Sau rặng tre, nhà cũ, giờ Tý.

Ngón tay tôi cứng đờ.

Ngoài cửa sổ bỗng vang lên tiếng bánh xe lăn trên tuyết.

Kẽo kẹt.

Kẽo kẹt.

Giống hệt mười lăm năm trước.

Tôi bước đến bên cửa sổ.

Trên tuyết đậu một chiếc xe kéo.

Phía trước xe đứng một gã đàn ông cao.

Phía sau xe đứng một gã đàn ông thấp.

Họ đều đội nón lá.

Vành nón ép rất thấp, không nhìn thấy mặt.

Trên xe ngồi một người đàn bà bụng to.

Nàng cúi đầu, tóc buông xõa.

Bụng to như sắp nứt áo bông.

Nàng không khóc, cũng không kêu đ/au.

Nàng chỉ từ từ ngẩng mặt lên.

Xuyên qua lớp giấy cửa sổ, nhếch mép cười với tôi.

Ngoài cửa, gã cao lên tiếng.

“C/ứu mạng.”

Tôi không đáp lại tiếng c/ứu mạng ấy.

Tôi đứng sau cửa sổ, đầu ngón tay ấn vào song cửa lạnh buốt, nghe tiếng tim mình đ/ập ngày càng nặng.

Gã cao ngoài cửa lại gọi thêm một lần nữa.

“Bà Khương, c/ứu mạng.”

Hắn không gọi Bà Khương nhỏ.

Cũng không gọi Khương Hòa.

Hắn gọi là Bà Khương.

Mười lăm năm trước, bọn họ cũng gọi bà tôi như vậy.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm