Chiếc hòm gỗ cũ đặt cạnh bếp đang mở hé, chiếc kéo bên trong nằm trên lớp vải trắng, lưỡi kéo ánh lên tia sáng lạnh lẽo.

Cổ tay tôi càng lúc càng nóng rát.

Vết hằn đỏ ấy như thể có sự sống, cứ theo da th!t mà co thắt ch/ặt lại.

Tôi nghiến răng, lấy chiếc túi vải của mình trên tường xuống, đổ hết kéo, vải trắng và tro thảo dược ra.

Tôi không muốn dùng chiếc hòm kia.

Nhưng vừa cúi người xuống nhặt kéo của mình, chiếc kéo trong hòm gỗ cũ bỗng cử động.

Cạch.

Tiếng động không lớn, nhưng lại như tiếng trống canh vang dội trong căn phòng.

Chiếc xe kéo ngoài cửa sổ cũng rung lắc theo.

Người đàn bà trên xe cúi đầu, bụng dưới lớp áo bông đang nhấp nhô chuyển động.

Không phải kiểu th/ai nhi xoay người.

Mà giống như có thứ gì đó đang đưa tay ra, từng chút từng chút một sờ nắn lớp da bên ngoài.

Tôi quay người định mở cửa sân.

Then cửa không hề nhúc nhích.

Tôi dùng sức bẩy, nhưng gỗ như đã mọc dính vào cửa, không sao nâng lên nổi.

Gã đàn ông thấp ngoài cửa lên tiếng.

"Giờ lành sắp đến rồi."

Giọng hắn nhọn hoắt, như dải tre vừa vớt dưới nước lên, lạnh lẽo rít qua tai tôi.

Tôi đứng trong nhà hỏi vọng ra: "Nhà nào?"

Bên ngoài im lặng một lát.

Gã cao đáp: "Nhà ở ngôi nhà cũ."

Tôi lại hỏi: "Sản phụ tên gì?"

Người đàn bà trên xe bỗng cười một tiếng.

Tiếng cười rất khẽ, len qua khe cửa sổ chui vào trong.

"Cô hỏi tên, hỏi tháng, hỏi con đầu hay con thứ."

"Quy tắc nhà họ Khương, cô chẳng quên điểm nào."

Sống lưng tôi lạnh toát.

Nàng ta biết tôi sẽ hỏi gì trước khi đỡ đẻ.

Tôi vặn đèn dầu sáng hơn, ép mình phải nói thật vững.

"Đã biết quy tắc, vậy thì nói thật đi."

"Mấy tháng rồi?"

Người đàn bà đáp khẽ: "Mười lăm năm."

Ngọn đèn trong phòng bỗng nhảy dựng lên.

Tôi nắm lấy mép cửa, đ/ốt ngón tay trắng bệch.

"Con đầu hay con thứ?"

Người đàn bà từ từ ngẩng đầu.

Giấy cửa sổ che khuất, tôi không nhìn rõ mặt nàng, chỉ thấy đôi mắt nàng đen ngòm, không một tia sáng.

"Đứa đầu chưa kịp chào đời."

"Đứa này, đang đợi cô đến đỡ."

Tôi không hỏi nữa.

Hỏi tiếp cũng chẳng có câu trả lời nào của người sống.

Tôi quay đầu nhìn chiếc hòm gỗ cũ.

Nắp hòm đã mở hoàn toàn.

Chiếc yếm vải xanh bên trong lật ngược lại, chữ "Khương" méo mó đang đối diện với tôi.

Tôi bỗng nhớ lại những lời bố tôi chưa kịp nói hết trước lúc lâm chung.

Hai chữ cuối cùng của bà nội, không phải là "đừng khóc", cũng không phải "đừng đi".

Vậy thì có thể là gì nữa.

Tôi chưa bao giờ dám nghĩ tới.

Nhưng đêm nay, đáp án đã đứng ngoài cửa rồi.

Tôi bước đến bên bếp, đưa tay cầm chiếc hòm gỗ cũ.

Ngón tay vừa chạm vào quai hòm, một luồng lạnh lẽo ướt át lập tức quấn lấy.

Như có ai đó dùng bàn tay của đứa trẻ mới sinh, nhẹ nhàng nắm lấy tay tôi.

Tôi nhấc chiếc hòm lên.

Then cửa sân tự động bật mở.

Tuyết ngoài cửa không có tiếng động.

Hai gã đàn ông đội nón lá đứng thẳng tắp, dưới chân lại không có bóng.

Trên xe kéo, người đàn bà cúi đầu, hai tay ôm lấy bụng.

Tay nàng rất trắng, trắng như giấy dán.

Tôi không ngồi lên xe kéo.

Tôi nói: "Tôi tự đi."

Gã cao quay người kéo xe.

Gã thấp đẩy phía sau.

Bánh xe lăn trên tuyết, kẽo kẹt, kẽo kẹt, âm thanh giống hệt mười lăm năm trước.

Tôi xách hòm gỗ cũ bước theo sau.

Chó trong trấn không con nào sủa.

Nhà nhà tắt đèn, như thể con phố này chỉ còn mấy chúng tôi là còn thở.

Đến đầu trấn, tuyết bỗng rơi dày hơn.

Những bông tuyết đ/ập vào mặt, nhưng không hề có chút lạnh lẽo nào.

Tôi ngoái lại nhìn căn nhà mình.

Cửa mở rộng, đèn dầu vẫn sáng.

Trong bóng đèn như có một người đang đứng.

Bà mặc chiếc áo vải xanh, lưng thẳng tắp.

Khóe mắt tôi nóng ran, vừa định gọi một tiếng "bà nội", bóng hình ấy đã biến mất.

Chiếc xe kéo không đi đường lớn.

Nó rẽ vào một con đường nhỏ tôi chưa từng đi qua.

Hai bên đường toàn là cỏ khô, trên ngọn cỏ đọng những chuỗi hạt băng.

Đi không biết bao lâu, phía trước hiện ra một rặng tre.

Bước chân tôi dừng lại.

Rặng tre tới rồi.

Trong mười lăm năm, tôi đã mơ thấy nơi này vô số lần.

Trong mơ luôn có tuyết, có m/áu, có một vệt kéo dài từ đường đất đến tận ngưỡng cửa.

Nhưng khi thực sự đứng trước rặng tre, tôi mới biết nỗi sợ trong mơ chỉ là cái bóng.

Ở đây không có gió.

Nhưng từng cây tre đều hơi cong xuống, như một nhóm đàn bà cúi đầu chờ đợi.

Ở cửa rặng tre đứng một ông lão c/òng lưng.

Ông khoác chiếc áo bông cũ, tay cầm chiếc đèn lồng sắp tắt.

Ánh đèn chiếu lên mặt ông, tôi suýt chút nữa không nhận ra.

Là Ngụy Trường Thuận.

Ông đã già hơn năm đó rất nhiều, hốc mắt sâu hoắm, môi tím tái.

Ông nhìn thấy chiếc hòm gỗ cũ trong tay tôi, cả người chao đảo.

"Cuối cùng cô vẫn đến."

Tôi nhìn ông.

"Ông vẫn luôn đợi ở đây sao?"

Ngụy Trường Thuận cười khổ.

"Từ ngày hai mươi ba tháng Chạp, đêm nào tôi cũng đến."

"Tôi muốn ngăn cô lại."

"Nhưng tôi cũng biết, không ngăn được."

Tôi hỏi ông: "Mười lăm năm trước, tại sao ông không nói rõ ràng?"

Ông ngẩng đầu nhìn vào sâu trong rặng tre.

"Khương Hòa, có những lời nói ra sớm quá, người ta sẽ không sống được đến cái đêm đáng lẽ phải đi."

Vết hằn đỏ trên cổ tay tôi bỗng siết ch/ặt.

Trong rặng tre, bỗng vang lên một tiếng thét thảm thiết của phụ nữ.

Người đàn bà trên xe kéo từ từ quay đầu lại.

Nàng nhìn tôi qua mái tóc xõa, khóe miệng từ từ cong lên.

Gã cao nói: "Giờ Tý đến rồi."

Chiếc đèn trong tay Ngụy Trường Thuận tắt ngấm.

Trong bóng tối, có một đứa trẻ áp sát vào tai tôi cười một tiếng.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm