Trước tôi, sư phụ đã ở đây ba trăm năm.
Trước sư phụ là sư tổ.
Càng về trước nữa là thái sư tổ.
Khi ngôi miếu này được xây dựng, ngay cả cụm từ "chứng minh thư" còn chưa được phát minh ra.
--
Quả nhiên, Trần Đông Lai đã tra ra được thứ ông ta muốn.
Hay nói đúng hơn, ông ta chẳng tra ra được gì cả.
Một tuần sau, Ủy ban Xây dựng quận Thành Dương ban hành một "Thông báo chỉnh đốn trong thời hạn".
Lý do được viết rất rõ ràng: Ngôi nhà này chưa qua thẩm định quy hoạch, chưa có giấy phép thi công, chưa làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu bất động sản, thuộc diện công trình trái phép.
Yêu cầu tự phá dỡ trong vòng mười lăm ngày.
Quá hạn không tháo dỡ sẽ cưỡ/ng ch/ế thi hành.
Thông báo do đích thân Tống Vi mang lên.
Lần này cô ta không đi giày cao gót.
Đã đổi sang giày thể thao đế bằng.
Cũng không mặc váy công sở.
Thay vào đó là một bộ đồ leo núi.
Khi cô ta đưa tài liệu cho tôi, những ngón tay hơi co lại.
Dường như cô ta sợ chạm vào tôi.
"Ông Hứa, đây là văn bản chính thức của quận. Mười lăm ngày nữa, đội chấp pháp sẽ lên đây. Đến lúc đó dù trong miếu có người hay không, công việc tháo dỡ vẫn sẽ bắt đầu."
Nói xong, cô ta lùi lại hai bước.
"Cá nhân tôi khuyên ông, dọn được thì dọn đi. Tổng Trần nói rồi, tiền bồi thường có thể bàn bạc thêm. Hai triệu tệ không phải là không thể cân nhắc."
Tôi đặt tài liệu lên bàn thờ.
Chẳng cần mở ra cũng biết trong đó viết gì.
Tống Vi lại lùi thêm một bước.
Ánh mắt cô ta quét qua đại điện.
Tôi nhận ra ánh mắt của cô ta đã khác so với lần đầu tiên đến.
Lần đầu đến, khi nhìn ngôi miếu này, gương mặt cô ta đầy vẻ chán gh/ét.
Lần này, trong mắt cô ta đã có thêm một thứ khác.
Sợ hãi.
Cô ta đang sợ hãi nơi này.
"Trưởng nhóm của các cô, gã đầu đinh đó, đã kể với cô chuyện ngày hôm đó rồi sao?"
Sắc mặt Tống Vi tái nhợt.
Cô ta lắc đầu.
"Chẳng có gì phải sợ cả." Tôi nói, "Cô đâu có đ/á lư hương."
Cô ta gần như tháo chạy khỏi nơi này.
--
Lại ba ngày nữa trôi qua.
Một người không ngờ tới đã xuất hiện.
Hai giờ chiều, một chiếc xe tải nhỏ màu xám đỗ dưới chân núi.
Từ trên xe bước xuống hai người.
Một người phụ nữ khoảng bốn mươi tuổi, tóc ngắn, đeo kính, mặc một chiếc áo khoác gió đã giặt đến bạc màu.
Một nam sinh độ tuổi đôi mươi, trên lưng đeo một chiếc ba lô khổng lồ.
Họ men theo bậc thang đ/á mà leo lên.
Nam sinh leo được một nửa đã thở không ra hơi.
Người phụ nữ bước đi vững vàng, hơi thở đều đặn.
Có thể thấy là người thường xuyên leo núi.
Khi họ đến cổng miếu, người phụ nữ dừng lại.
Cô ta không nhìn tôi.
Cô ta nhìn tấm biển hiệu bong tróc sơn, chữ nghĩa tàn khuyết trên ngạch cửa.
Cô ta đứng đó, nhìn chằm chằm rất lâu.
Sau đó ngồi xổm xuống, lấy từ trong túi ra một chiếc kính lúp.
Đối chiếu với những nét chữ còn sót lại trên biển hiệu, từng nét từng nét nhận diện.
"Thầy, thầy nhìn ra gì rồi ạ?" Nam sinh thở dốc hỏi.
"Phong cách thư pháp thời Đường." Giọng người phụ nữ r/un r/ẩy, "Tấm biển này... nếu thầy nhìn không nhầm, đây là vật của thời Đường."
Cô ta đứng dậy, quay lại nhìn tôi một cái.
"Xin hỏi, ông là trụ trì ở đây sao?"
"Chỉ có mình tôi."
"Tôi họ Lâm, Lâm Nhược Khê, từ Học viện Khảo cổ Đại học Thành Dương."
Cô ta lấy từ trong túi ra một tấm danh thiếp nhăn nhúm đưa cho tôi.
"Tôi nghe nói quận muốn phá ngôi miếu này, tôi muốn đến khảo sát thực địa. Nếu x/ác nhận có giá trị văn vật, có thể làm đơn xin bảo tồn."
Tôi để cô ta vào.
Cô ta ở trong đại điện suốt hai tiếng đồng hồ.
Sinh viên của cô ta giúp cô ta chụp ảnh, đo đạc, ghi chép.
Cô ta xem xét từng vết khắc trên tường.
Có những vết khắc là chữ, có những vết là ký hiệu.
Đa số đã bị năm tháng mài mòn, chỉ còn lại những dấu vết nhàn nhạt.
Cô ta nhìn thấy cuốn sổ dưới bàn thờ.
Giấy đã ố vàng.
Đóng gáy bằng chỉ.
Trên bìa viết hai chữ: "Thủ Quan Lục".
"Tôi có thể xem cái này không?"
Tôi gật đầu.
Cô ta cẩn thận lật mở trang đầu tiên.
Cuốn sổ ghi chép tên tuổi của mỗi đời người giữ miếu, năm tiếp nhận và các công việc bàn giao.
Trang thứ nhất: Thanh Dương chân nhân, năm đầu xây miếu.
Trang thứ hai: Tịnh Hư đạo trưởng, tiếp nhận vào năm Nguyên Thống thứ hai.
Trang thứ ba: Thanh Nguyên chân nhân, tiếp nhận vào năm Vạn Lịch thứ mười một.
Trang thứ tư: Hứa Tĩnh An, tiếp nhận vào năm Dân Quốc thứ ba mươi lăm.
Lâm Nhược Khê nhìn chằm chằm vào trang thứ tư rất lâu.
"Hứa Tĩnh An... năm Dân Quốc thứ ba mươi lăm..." Cô ta lẩm bẩm, "Đó là năm 1946. Tính đến nay đã bảy mươi tám năm rồi."
Cô ta ngẩng đầu nhìn tôi.
"Hứa Tĩnh An này, là ông sao?"
"Là sư phụ tôi ghi vào."
"Ông chính là Hứa Tĩnh An?"
"Phải."
Bút của cô ta dừng lại trên cuốn sổ.
"Vậy năm nay ông..."
Cô ta nhẩm tính trong lòng.
Tiếp nhận năm 1946, dù lúc đó chỉ mới mười lăm, mười sáu tuổi,
Năm nay cũng phải ngoài chín mươi ba, chín mươi tư rồi.
Nhưng cử chỉ của tôi, cách tôi đi đứng, nhịp điệu tôi nói chuyện - một ông lão ngoài chín mươi không nên có sự linh hoạt này.
Cô ta lật ngược lại mấy trang trước.
Từ năm đầu xây miếu đến năm Dân Quốc thứ ba mươi lăm.
Tám trăm năm.
Bốn cái tên.
Trung bình mỗi người giữ miếu hai trăm năm.
Ngón tay cô ta dừng lại ở trang thứ ba.
"Thanh Nguyên chân nhân, tiếp nhận năm Vạn Lịch thứ mười một - đó là năm 1583. Ông ấy đã giữ ở đây... ba trăm sáu mươi ba năm?"
"Ba trăm sáu mươi ba năm."
Tôi nói.
"Sau đó ông ấy giao lại nơi này cho ông."
"Đúng."
Lâm Nhược Khê khẽ gấp cuốn sổ lại.
Tay cô ta đang khẽ run lên.