“Trả n/ợ.”

“Trả n/ợ cho ai?”

“Một... một người bạn làm ăn cũ của bố anh.”

Cái cớ này, rõ ràng anh ta đã chuẩn bị sẵn từ lâu.

“Làm ăn thất bại, n/ợ tiền người ta, bao nhiêu năm nay vẫn luôn trả dần.”

“N/ợ bao nhiêu?”

“...Khá nhiều.”

“Tại sao không trả dứt điểm một lần?”

Tôi truy vấn, “Lúc chúng ta cưới nhau, bố mẹ tôi cho 200 ngàn tiền hồi môn, cộng thêm tiền tiết kiệm của chúng ta, trả món n/ợ này chắc là đủ rồi chứ?”

Sắc mặt Hứa Triết trong tích tắc trở nên tái nhợt.

“Số tiền đó không được động vào!”

Phản ứng của anh ta còn dữ dội hơn tôi dự đoán.

“Đó là cho em, cho đứa bé, không liên quan gì đến chuyện này!”

“Làm sao lại không liên quan?”

Tôi nhìn anh ta, “Chúng ta là vợ chồng, n/ợ của anh chính là n/ợ của tôi.”

“Đây không phải n/ợ của anh!”

Anh ta gần như hét lên.

Hét xong, anh ta mới nhận ra mình đã thất thố, vội vàng hạ thấp giọng.

“Nhiên Nhiên, đây... đây là n/ợ của bố anh, không liên quan đến em, cũng không liên quan đến anh.”

“Anh chỉ là... trả thay ông ấy.”

Lời giải thích của anh ta ngày càng hỗn lo/ạn, đầy rẫy sơ hở.

Tôi không truy hỏi thêm nữa.

Tôi biết, nếu hỏi tiếp, anh ta cũng chỉ dùng thêm những lời nói dối để che đậy mà thôi.

Ánh mắt tôi quay trở lại cuốn sổ sách.

Tôi giả vờ như không để ý, lật xem từng trang một.

Tim tôi đ/ập rất nhanh.

Tôi đang tìm ki/ếm.

Tìm ki/ếm một bằng chứng có thể đ/ập tan lời nói dối của họ.

Đột nhiên, tầm mắt tôi bị thu hút bởi một chi tiết vô cùng khó thấy.

Ở dưới chân một trang giấy.

Chính là trang ghi chép một khoản chi “trả n/ợ”.

Ở góc chân trang, có một chữ viết bằng bút chì, rất nhạt, rất nhạt.

Nét chữ nguệch ngoạc, nếu không chú ý kỹ thì hoàn toàn không thể phát hiện ra.

Đó là chữ “Miếu” (đền/chùa).

Bên cạnh còn có một ngày tháng.

Ngày 15 tháng 7 âm lịch.

Ngày lễ Vu Lan.

Tim tôi như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt.

Trả n/ợ.

Chùa chiền.

Lễ Vu Lan.

Những từ ngữ này đi/ên cuồ/ng kết hợp và va chạm trong đầu tôi.

Một ý nghĩ hoang đường và đ/áng s/ợ mơ hồ hiện ra.

Tôi đóng cuốn sổ lại.

“Tôi biết rồi.”

Tôi nói với Hứa Triết.

Anh ta lo lắng nhìn tôi, “Em biết cái gì rồi?”

“Tôi biết rồi, các người không dễ dàng gì.”

Tôi ngẩng đầu, nở một nụ cười nhạt với anh ta.

“Sau này tôi sẽ chi tiêu tiết kiệm hơn.”

Hứa Triết nhìn tôi, trong ánh mắt đầy vẻ nghi hoặc và bất định.

Chắc anh ta không ngờ tôi lại dễ dàng “chấp nhận” lời giải thích của anh ta như vậy.

“Nhiên Nhiên, em...”

“Tôi mệt rồi.”

Tôi đứng dậy, “Tôi muốn về phòng nghỉ ngơi.”

Tôi không nhìn anh ta nữa, đi thẳng về phía phòng ngủ rồi đóng cửa lại.

Dựa vào cánh cửa, tôi mới cảm thấy sau lưng mình đã vã ra một lớp mồ hôi lạnh.

Tôi lấy điện thoại ra, đôi bàn tay r/un r/ẩy nhập ngày tháng và chữ “Miếu” vừa ghi lại vào phần ghi chú.

Tôi có một linh cảm mãnh liệt.

Chữ “Miếu” này chính là chìa khóa để giải mã mọi bí mật.

Tôi nhắm mắt lại.

Khoản n/ợ không có người nhận trên sổ sách kia giống như một vết s/ẹo đen, khắc sâu vào trong tâm trí tôi.

Đây căn bản không phải là n/ợ người sống.

Đây là... đang trả n/ợ cho người đã khuất.

Ngày hôm sau, tôi xin công ty nghỉ ốm.

Tôi nói mình nghén nặng, cần nghỉ ngơi.

Hứa Triết không nghi ngờ, trước khi đi còn dặn đi dặn lại tôi phải nằm nghỉ thật tốt, đừng chạy lung tung.

Anh ta vừa đi, tôi liền ra khỏi cửa ngay.

Tôi bắt taxi đến khu phố cổ ở phía Tây thành phố.

Chữ “Miếu” trong ghi chú không có thêm thông tin gì.

Nhưng tôi nhớ bà nội của Hứa Triết, tức bà nội đã khuất của anh ta, lúc sinh thời sống ở phía Tây.

Bà rất sùng đạo Phật, vô cùng thành tâm.

Nếu nhà họ Hứa có ngôi chùa nào hay lui tới, chắc chắn là ở quanh đây.

Đường ở khu phố cổ rất hẹp, xe không vào được.

Tôi trả tiền rồi từ từ đi bộ.

Kiến trúc ở đây đều mang đậm dấu ấn thời gian, đường lát đ/á xanh, tường trắng ngói xám.

Tôi lần theo ký ức đi về phía nơi ở cũ của bà nội.

Đi khoảng mười phút, tôi nhìn thấy một ngôi chùa nhỏ.

Không có cổng chùa uy nghiêm, cũng không có điện thờ cao lớn.

Chỉ là một sân nhỏ nằm sâu trong ngõ hẻm.

Trước cửa treo một tấm biển gỗ đã phai màu, trên đó viết ba chữ: Chùa Quan Âm.

Tim tôi lỡ một nhịp.

Chính là chỗ này.

Tôi bước vào trong.

Sân chùa rất yên tĩnh, chỉ có một ông lão trông chùa mặc áo xám đang quét lá rụng trên sân.

Trong lư hương cắm vài nén nhang tàn, khói nhạt lượn lờ.

Tôi bước tới, lấy từ trong túi ra một tờ 100 ngàn bỏ vào hòm công đức.

Ông lão trông chùa nghe tiếng động liền dừng chổi, ngẩng đầu nhìn tôi.

Ông rất g/ầy, gương mặt chằng chịt nếp nhăn.

“Nữ thí chủ, cầu gì vậy?”

Giọng ông rất bình hòa.

“Tôi... tôi đang mang th/ai.”

Tôi xoa bụng bầu, giả vờ ngại ngùng.

“Muốn đến cầu cho đứa bé được bình an.”

“Tốt, tốt.”

Ông lão cười, để lộ hàm răng không còn mấy chiếc.

“Bồ T/át Quan Âm từ bi nhất, chắc chắn sẽ phù hộ cho con và đứa bé.”

Ông chỉ vào điện thờ, “Đi thắp nén nhang đi.”

Tôi gật đầu, lấy ba nén nhang, châm lửa rồi cung kính vái ba vái.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm