Một tháng sau, học viện công bố danh sách vị trí trợ lý nghiên c/ứu cho học kỳ này.
Một đề tài cấp trường của Triệu Hành Sơn cần trợ lý nghiên c/ứu, theo thông lệ, sinh viên dưới trướng thầy sẽ được ưu tiên.
Tôi là ứng viên duy nhất.
Nhưng ngày công bố danh sách, tôi nhìn thấy hai cái tên trên đó.
Lâm Nhược Vãn.
Trình Vũ Vi.
Tôi đến hỏi thư ký của Triệu Hành Sơn.
Thư ký nói, giảng viên hướng dẫn của Trình Vũ Vi là Lưu Phương Linh đã đích thân gọi điện, nói rằng Trình Vũ Vi rất hứng thú với hướng đề tài của Triệu Hành Sơn và hy vọng được tham gia chéo nhóm.
Lưu Phương Linh và Triệu Hành Sơn là đồng nghiệp, yêu cầu này không quá đáng.
Triệu Hành Sơn không từ chối.
"Thầy Triệu nói thêm một người cũng không phải chuyện x/ấu, bảo hai bạn phối hợp làm cùng nhau."
Phối hợp làm cùng nhau.
Tôi và Trình Vũ Vi.
Đây chính là bước thứ hai của cô ta.
Xen vào.
Đã không thể đẩy tôi ra khỏi tầm mắt của Triệu Hành Sơn, thì nhét chính mình vào cũng được.
Chỉ cần cô ta và tôi cùng một dự án, cô ta sẽ có vô số cơ hội.
Tranh công, dẫm lên sai lầm của tôi, hoặc tìm ra điểm yếu của tôi.
Sau khi công việc trợ lý nghiên c/ứu bắt đầu, cô ta quả nhiên tỏ ra vô cùng tích cực.
Mỗi lần Triệu Hành Sơn giao nhiệm vụ, cô ta luôn nhanh tay trả lời "Đã nhận". Mọi tài liệu cô ta đều nộp sớm nửa ngày, định dạng ngay ngắn, mục lục rõ ràng.
Thái độ của cô ta với Triệu Hành Sơn cũng từ "trình bày kín đáo" lúc salon chuyển sang "tỏ thiện chí công khai".
Dự thính họp nhóm, hỏi bài sau giờ học, ngay cả bài báo Triệu Hành Sơn gửi cô ta cũng in ra dùng bút dạ quang đá/nh dấu ghi chú.
Làm rất đẹp.
Như thể đang nói với mọi người: Nhìn xem, tôi mới là người thực sự tận tâm đây.
Nhưng làm nghiên c/ứu không phải so ai nộp nhanh, mà là so ai nộp đúng.
Hai tuần sau, Triệu Hành Sơn giao một nhiệm vụ giai đoạn, bảo tôi và Trình Vũ Vi mỗi người viết một báo cáo tổng qu/an t/ài liệu, cùng chủ đề.
Cô ta nộp sớm hơn tôi một ngày.
Tôi nhìn thấy báo cáo của cô ta trong buổi họp nhóm.
Trình bày đẹp mắt, trích dẫn chuẩn mực, cấu trúc rõ ràng.
Nhưng nội dung là chắp vá.
Cô ta trích dẫn mười lăm tài liệu, trong đó chín bài là luận văn do chính Triệu Hành Sơn công bố, sáu bài còn lại là tài liệu tham khảo được trích dẫn trong bài của thầy Triệu.
Nói cách khác, cô ta không hề thực hiện bất kỳ tìm ki/ếm tài liệu đ/ộc lập nào.
Cô ta chỉ đơn thuần lấy những thứ Triệu Hành Sơn đã viết, đổi cách diễn đạt rồi kể lại một lần nữa.
Loại báo cáo này, người ngoài ngành nhìn vào thấy "rất tận tâm", nhưng dân trong nghề chỉ cần liếc一眼 là biết ngay trình độ.
Triệu Hành Sơn lật báo cáo của cô ta trong ba phút, không đưa ra nhận xét.
Rồi mở báo cáo của tôi ra.
Tôi trích dẫn hai mươi mốt tài liệu, trong đó chỉ có ba bài của Triệu Hành Sơn. Mười tám bài còn lại đến từ sáu nhóm nghiên c/ứu khác nhau, trải rộng trên bốn lĩnh vực học thuật.
Thầy xem trong mười phút.
"Báo cáo tổng qu/an t/ài liệu của Lâm Nhược Vãn có một phép so sánh liên ngành vô cùng táo bạo, nếu mối liên hệ logic giữa phần ba và phần bảy được chứng minh, nó có thể hỗ trợ cho một giả thuyết nghiên c/ứu rất có giá trị."
Thầy đóng báo cáo lại, nhìn tôi.
"Hướng này, em cứ tiếp tục đào sâu."
Trình Vũ Vi ngồi đối diện tôi.
Trên mặt cô ta không có chút biểu cảm nào.
Nhưng bàn tay cô ta đặt dưới bàn, các khớp ngón tay đã trắng bệch.
Chương 16
Cuộc đối đầu công khai thực sự đầu tiên diễn ra tại hội báo cáo học thuật thường niên của học viện.
Đây là hoạt động học thuật quan trọng nhất hàng năm của Học viện Quản lý.
Tất cả giảng viên hướng dẫn và nghiên c/ứu sinh đều phải tham gia, do Viện trưởng Tôn Chí Viễn chủ trì, cùng hai chuyên gia đá/nh giá từ trường khác được mời tham dự.
Tân sinh viên năm nhất có ba suất trình bày, do giảng viên hướng dẫn của từng hướng đề cử.
Triệu Hành Sơn đề cử tôi.
Lưu Phương Linh đề cử Trình Vũ Vi.
Suất thứ ba dành cho một nam sinh hướng khác.
Hội báo cáo được tổ chức tại hội trường lớn của học viện, sức chứa hai trăm người.
Hôm đó gần như kín chỗ.
Tôi xếp thứ hai, Trình Vũ Vi xếp thứ ba.
Sau khi nam sinh thứ nhất trình bày xong, tôi bước lên bục.
Hàng ghế thứ ba phía dưới ngồi Triệu Hành Sơn, bên cạnh là hai chuyên gia trường khác.
Một trong số họ tôi có biết.
Không phải biết mặt trực tiếp, mà là tôi từng tra c/ứu lý lịch của ông ấy.
Lục Chính Lâm, giáo sư thỉnh giảng của Trung tâm Nghiên c/ứu Quản lý Hoa Trung, đã công bố hơn bốn mươi bài báo trên tạp chí cốt lõi trong lĩnh vực hành vi tổ chức.
Khung phần ba trong bài báo năm ngoái của Triệu Hành Sơn đã tham khảo một mô hình lý thuyết của Lục Chính Lâm.
Và phần thực chứng trong mô hình lý thuyết đó của Lục Chính Lâm, trùng khớp với logic phân tích trong bài "Lâm Trì" của tôi.
Không phải đạo văn, mà là ý tưởng lớn gặp nhau.
Sự trùng hợp này, Triệu Hành Sơn rất có thể đã biết.
Thầy đề cử tôi lên trình bày, không phải tùy tiện.
Tôi trình bày trong mười lăm phút.
Sau khi kết thúc, Lục Chính Lâm giơ tay.
"Em học sinh này, khung phân tích phối hợp liên tổ chức mà em vừa trình bày, tôi nhận thấy logic nền tảng em sử dụng trùng khớp cao với một mô hình lý thuyết tôi đề xuất cách đây ba năm."
Cả hội trường im lặng.
"Nhưng góc độ tiếp cận của em chi tiết hơn so với tôi khi đó, và lộ trình thực chứng cũng hoàn chỉnh hơn." Ông đẩy gọng kính, "Em tiếp cận hướng này từ đâu?"
Ánh mắt của hai trăm người đồng loạt đổ dồn về phía tôi.
"Chào giáo sư Lục. Thời đại học em từng viết một bài phân tích, sử dụng tư duy tương tự. Đăng trên một tạp chí học thuật nội bộ trường, bút danh Lâm Trì. Sau này khi tra c/ứu tài liệu, em thấy bài báo của giáo sư, phát hiện tư duy thông nhau, nên cứ thế đi sâu theo hướng này."