Trong giới Lê Viên có một quy tắc.
Kịch có thể nhường. Vai diễn không được lo/ạn. Trang phục càng không được mặc sai.
Tôi theo Thương Úc 8 năm.
Từ lúc luyện giọng, đ/á chân, đi vòng sân, từng chút một tôi rèn giũa để trở thành một Thanh Y có thể áp trục.
Cho đến đêm phong rương đó.
Tôi ngồi trước gương, trang điểm được một nửa.
Nhìn anh tận tay đặt chiếc phượng quan vốn dĩ thuộc về tôi lên đầu sư muội nhỏ.
Đêm đó tôi không làm lo/ạn. Không hỏi. Cũng không khóc.
Tôi chỉ đứng ở cánh gà, xem hết toàn bộ vở kịch.
Sau đó quay về hậu trường.
Từng nét, từng nét, tẩy sạch lớp trang điểm.
1.
Ngày 28 tháng Chạp.
Kịch phong rương của đoàn kịch.
Phía sau hậu trường nóng đến mức ngột ngạt.
Đèn hóa trang sáng lên từng chiếc, chiếu rọi khuôn mặt người ta trắng bệch.
Có người đang quấn đầu. Có người đang dán miếng tóc giả. Có người cầm tay áo nước lướt vội qua sau lưng tôi.
Tôi ngồi trước chiếc bàn gương cũ kỹ trong cùng.
Lớp trang điểm đã xong quá nửa.
Nền đã đá/nh đều, lông mày cũng đã kẻ xếch lên, trên môi chỉ thiếu nét cuối cùng.
Đầu diện vẫn chưa đeo.
Thế nhưng tấm vải nhung đỏ bên cạnh tôi đã được bày biện theo quy tắc của vai chính.
Phượng quan đặt ở giữa.
Đầu diện điểm thúy đặt bên trái.
Hoa châu, khuyên tai, dải quấn đầu, không thiếu một món.
Ngay cả đôi giày thêu định mặc tối nay, tôi cũng đã thay đế từ trước.
Phần mũi mỏng, gót vững, đi vòng sân sẽ không dễ trượt.
Để có được vở kịch phong rương này, tôi đã giữ giọng suốt nửa tháng.
Không đụng đến đồ cay.
Không thức khuya.
Ngay cả món súp hồ lạt yêu thích nhất cũng không dám uống một ngụm.
Ba ngày trước, tôi còn một mình tập lại đoạn thân đoạn cuối cùng trên sân khấu trống.
Đèn chưa bật.
Cửa sân khấu tối om.
Tôi đứng ở giữa, từng bước chân đều dẫm rất chuẩn.
Lúc đó tôi nghĩ.
Năm nay thế nào cũng đến lượt mình rồi.
Cửa ra vào có người cười nói một câu:
“Sư tỷ Thính Tuyết tối nay cuối cùng cũng được áp trục rồi nhỉ?”
Tôi không đáp.
Chỉ nhìn chính mình trong gương.
Giây tiếp theo, hậu trường lặng đi một chút.
Thương Úc bước vào.
Anh mặc trang phục diễn chưa chỉnh tề, khoác bên ngoài chiếc áo khoác dạ đen, tay cầm quạt giấy.
Anh liếc nhìn tôi trước.
Như thể đang x/ác nhận xem tôi đã chuẩn bị xong xuôi chưa.
Sau đó, anh lướt qua tôi, đi về phía Bạch Sơ Diên.
Tay tôi dừng lại giữa không trung.
Bạch Sơ Diên ngồi trước một bàn gương khác, vừa trang điểm xong, đôi mắt ướt át.
Thương Úc đứng sau lưng cô ta, thấp giọng hỏi:
“Căng thẳng sao?”
Bạch Sơ Diên ngẩng đầu nhìn anh.
“Có một chút. Sư huynh, em sợ mình không gánh nổi.”
Thương Úc cười.
Rất nhẹ.
Giống hệt như lúc trước anh dỗ dành tôi.
“Có anh ở đây, sợ cái gì.”
Anh vừa nói vừa vươn tay cầm chiếc phượng quan kia lên.
Chiếc phượng quan vốn dĩ phải đeo trên đầu tôi.
Nhìn anh tận tay đặt chiếc mão đó, vững vàng đội lên đầu cô ta.
Phòng hóa trang bỗng chốc im bặt.
Không ai dám lên tiếng.
Tôi cũng không nói gì.
Lúc này Thương Úc mới đi đến trước mặt tôi.
“Thính Tuyết.”
Tôi ngẩng đầu.
“Tối nay để Sơ Diên lên trước.”
“Dạo này độ thảo luận của cô ấy tốt, truyền thông đều đổ dồn vào cô ấy. Vở phong rương này không được phép xảy ra sơ suất.”
Tôi nhìn anh, không đáp lời.
Anh dịu giọng lại.
“Công lực của em thâm hậu, gánh được sân khấu, không thiếu một vở này. Sang năm anh xếp cho em vở tốt hơn.”
Sang năm.
Lại là sang năm.
Bạch Sơ Diên ở phía sau nhỏ giọng lên tiếng:
“Sư tỷ, hay là chị lên đi. Em thật sự—”
“Được rồi.” Thương Úc ngắt lời cô ta, “Làm theo những gì đã sắp xếp.”
Nói xong, anh lại nhìn về phía tôi.
Như thể đang đợi tôi giống như trước kia, nói một câu “Được”.
Tôi không hỏi tại sao.
Cũng không làm ầm ĩ.
Tôi chỉ nhìn chính mình trong gương.
Một lúc lâu.
Sau đó khẽ "ừ" một tiếng.
Chỉ vỏn vẹn một chữ này.
Thương Úc rõ ràng thở phào nhẹ nhõm.
“Ủy khuất em lần này.” Anh nói, “Đợi bận xong đợt này, sư huynh bù đắp cho em.”
Bù đắp.
Tôi bỗng thấy nực cười.
Bên ngoài tiếng chiêng trống vang lên.
Có người đang giục ra sân.
Bạch Sơ Diên được một đám người vây quanh chỉnh tay áo, nâng đầu diện, xung quanh náo nhiệt như mùa xuân về.
Còn tôi ngồi trước gương, lặng lẽ.
Giống như một người đã hát xong xuôi.
2.
Tôi đứng ở cánh gà.
Cửa sân khấu chiêng trống vang dội.
Vở kịch phong rương vừa mở màn, tiếng vỗ tay đã rộ lên.
Phía trước sân khấu sáng chói mắt, hậu trường lại nửa sáng nửa tối.
Cách một tấm màn, tôi có thể thấy khi tay áo nước của Bạch Sơ Diên vung ra, dưới sân khấu có người giơ điện thoại quay, có người hô hay.
Thật náo nhiệt.
Đêm phong rương, vốn dĩ nên náo nhiệt.
Kịch phong rương là vở diễn cuối cùng của năm nay.
Diễn xong vở này, niêm phong rương kịch, dán giấy niêm phong "Phong rương đại cát", sang năm mới mở rương.
Cho nên nó không chỉ là một vở kịch.
Nó là bảng xếp hạng của năm nay, là minh chứng cho việc ai đứng giữa sân khấu, ai đứng bên rìa.
Năm nay, Bạch Sơ Diên đứng ở giữa.
Tôi đứng trong cánh gà.
Giống như một cái bóng áp trận cho cô ta.
Người gõ phách bên cạnh nhỏ giọng hỏi:
“Sư tỷ, có muốn ngồi một lát không?”
Tôi lắc đầu.
Không ngồi.
Sợ ngồi xuống rồi, sẽ không còn sức đứng dậy nữa.
Trên sân khấu diễn đến đoạn giữa, Bạch Sơ Diên có một bước đi vòng sân suýt nữa lo/ạn nhịp.
Thương Úc đứng ở cánh gà đối diện, làm một động tác cực kỳ khẽ với cô ta.
Ánh mắt kiểu đó, tôi đã thấy quá nhiều lần.
Nhiều năm về trước, lần đầu tôi lên sân khấu cùng anh.
Hát sai một nốt, sợ đến mức ướt đẫm cả lưng.
Sau khi xuống sân khấu, tôi co rúm ở hậu trường không dám ngẩng đầu.
Anh vặn nắp bình giữ nhiệt đưa cho tôi, nói:
“Thính Tuyết, nhìn anh.”
Tôi ngẩng đầu.
Anh nói: “Hoảng cái gì. Em ở trên sân khấu, ánh mắt phải sáng, tâm phải vững. Khi bước ra ngoài, em chính là một cái danh xưng (góc).”
Lúc đó tôi thật sự tin.
Nhưng sau này tôi mới biết.
Anh nói tôi giống một cái danh xưng.