Dù bề mặt gỗ phủ đầy bụi bẩn dày đặc, nhưng khi cầm vào lại cực kỳ nặng, chất gỗ cứng như sắt.
“Này, con nhóc mặt mày lấm lem đằng kia, coi như ngươi biết điều.” Tấm tựa lưng hừ một tiếng, “Đi, đào cái tay vịn bên trái của ta từ dưới đống ván rá/ch kia ra đây.”
Tôi không nói hai lời, quay người đi về phía đống ván ép. Dời mấy chục cân ván gỗ, móng tay còn bị g/ãy mất một cái, cuối cùng cũng lôi được cái tay vịn chạm khắc từ tầng dưới cùng lên.
“Ôi chao, được nhìn thấy ánh mặt trời rồi! Cảm ơn con nhóc nhé!” Cái tay vịn hào hứng hét lớn.
Tôi như một chiếc máy xúc không biết mệt mỏi, dựa theo “vị trí” mà chúng cung cấp, đi/ên cuồ/ng tìm ki/ếm khắp kho hàng. Tay vịn phải, chân trước, chân sau, thanh giằng đáy...
Suốt hai tiếng đồng hồ, người tôi đầy bụi bặm, mặt mũi lấm lem như mèo mướp, hai tay r/un r/ẩy. Tôi bê tất cả các bộ phận gỗ tìm được ra khoảng trống giữa kho, dựa vào các khớp mộng mà ghép chúng lại với nhau.
Khít khao hoàn hảo.
Một chiếc ghế thái sư bằng gỗ hoàng hoa lê Hải Nam, tuy phủ đầy bụi nhưng kiểu dáng hoàn chỉnh, khí chất trầm ổn, sừng sững hiện ra trước mắt tôi.
“Sướng thật…” Cả chiếc ghế phát ra một tiếng thở dài thỏa mãn đồng thanh, “Cuối cùng cả nhà cũng đoàn tụ.”
Ngay khi tôi đang ngẩn người nhìn chiếc ghế, cánh cửa sắt phía sau bị một cú đ/á “bộp” văng ra. Bà chủ chống hông đứng ở cửa, nhìn đống ghế tôi vừa ghép lại, th!t b/éo rung lên bần bật: “Tô B/án Hạ! Ta bảo ngươi vào dọn dẹp, ngươi ở đây chơi xếp hình với củi mục à?! Hôm nay đừng hòng lấy một xu tiền lương! Cút ngay…”
Lời bà ta còn chưa dứt, chiếc chuông đồng đón khách treo ở sảnh trước “đinh đang” vang lên một tiếng. Một người đàn ông mặc âu phục xám đậm, đeo găng tay da đen tuyền, bước qua bậu cửa cao, mang theo luồng khí lạnh bước vào tiệm.
Người đàn ông đứng ở nơi ngược sáng phía cửa, vai lưng thẳng tắp, tà áo khoác dạ đen mang theo hơi lạnh từ bên ngoài. Chính là người đàn ông đã đưa danh thiếp cho tôi ở phố đồ cổ vài tiếng trước.
Lời mắ/ng ch/ửi đang chực chờ nơi cổ họng bà chủ lập tức nghẹn lại. Bà ta quay đầu, vừa định đổi lấy gương mặt tươi cười đón khách thì một gã đàn ông b/éo bụng bia, mồ hôi nhễ nhại từ ngoài cửa chen vào, th/ô b/ạo va mạnh vào vai người đàn ông mặc âu phục.
“Chị Vương! Chị cút ra đây cho tôi!”
Gã b/éo bưng một chiếc hộp gấm bọc lụa đỏ, tức tối lao đến quầy, đ/ập mạnh chiếc hộp xuống mặt kính. Nắp hộp gấm bật ra, bên trong là một chiếc bình mai sứ thanh hoa vỡ làm ba mảnh.
Mặt bà chủ trắng bệch, vội vàng chạy từ cửa kho về phía quầy: “Ôi chao ông Lý, ông bị sao thế này? Sao lại nổi gi/ận lớn như vậy?”
“Bị sao? Cô còn mặt mũi mà hỏi à!” Ông Lý chỉ vào đống mảnh sứ vỡ, nước bọt văng tung tóe, “Tôi bỏ mười vạn tệ m/ua cái ‘bình mai thanh hoa cuối thời Thanh’ từ chỗ cô hôm qua, mang về mừng thọ ông cụ nhà tôi, kết quả vừa lấy ra đã nứt! Ông cụ nhờ người xem qua, đây là đồ thủ công hiện đại nhìn là biết giả! Trả tiền! Trả lại mười vạn tệ cho tôi, không thì tôi báo cảnh sát phong tỏa cái tiệm rá/ch này của cô ngay!”
Bà chủ sợ hãi lùi lại một bước, lắp bắp: “Ông Lý, lời này không được nói bậy, cái bình lúc ra khỏi cửa tiệm vẫn còn nguyên vẹn, vỡ là do ông không cầm chắc! Hơn nữa... trên biên lai viết là ‘đồ sứ thủ công phỏng cổ’, tôi có bao giờ nói là thời Thanh đâu?”
“đá/nh rắm! Lúc đó cô vỗ ngựk bảo là đồ quan diêu chính hiệu! Biên lai là do cô cố tình viết từ ngữ m/ập mờ!” Ông Lý đ/ập một chưởng lên quầy, làm kính rung lên bần bật.
Tôi đứng bên cạnh lạnh lùng quan sát. Bà chủ bình thường không ít lần làm mấy trò lấy giả tráo thật, lừa gạt khách hàng, lần này coi như đụng phải đ/á tảng rồi.
Đống mảnh sứ vỡ trong hộp gấm phát ra một tràng cười đểu giả vô cùng đắc ý: “He he he, cãi nhau đi, cãi nhau đi. Lão tử đây mới ra lò từ lò nung dưới đất ở Cảnh Đức Trấn tuần trước, để làm cũ, còn phải ngâm trong hố phân bò ba ngày đấy. Mười vạn tệ? Giá xuất xưởng của ta chỉ có hai trăm năm mươi tệ!”
Ngay lúc mảnh sứ đang đắc ý quên mình, trên kệ hàng cao nhất của quầy, một chiếc ống bút thật thời Thanh phủ lớp bụi mỏng khẽ cười lạnh, giọng nói tràn đầy vẻ kh/inh bỉ cao ngạo:
“Đồ rác rưởi chế tác cẩu thả. Nhìn cái mặt c/ắt ánh sáng giả tạo kia đi, phần rơi khoản ở đáy được khắc bằng axit flohydric, ngay cả ánh sáng giả cũng chưa tẩy sạch. Một mùi axit hóa học nồng nặc thế mà cũng dám mạo nhận là quan diêu? Đúng là mất mặt.”
Tôi nghe rõ mồn một. Nhìn bà chủ đang lo đến phát khóc, ông Lý làm bộ định lấy điện thoại ra báo cảnh sát. Tôi bước lên, qua quầy kính, trực tiếp nhặt mảnh sứ vỡ có phần rơi khoản ở đáy trong hộp gấm lên.
“Cô làm cái gì đấy! Đừng chạm vào vật chứng của tôi!” Ông Lý trợn tròn mắt.
Tôi đưa mảnh sứ lên dưới ánh đèn, giọng điệu bình thản không chút gợn sóng: “Thứ này, quả thực không phải đồ cổ.”
Bà chủ quay phắt đầu trừng tôi: “Con ranh, mày nói bậy gì thế!”
Tôi không thèm để ý đến bà ta, nhìn thẳng vào ông Lý: “Ông Lý, đồ cổ chú trọng sự tinh tế, bảo quang nội liễm. Ông nhìn màu men ở mặt c/ắt này xem, ánh sáng phản chiếu chói mắt, dân trong nghề gọi là ‘tặc quang’. Còn phần rơi khoản ở đáy này nữa...”