Tại sau núi nơi thôn ta có một giếng cấm, mỗi năm đều phải h/iến t/ế một người sống.
Năm đó đến lượt nhà ta, bà nội r/un r/ẩy đẩy ta về phía miệng giếng:
“Chớ trách bà, đây là quy củ của Sơn Thần...”
Sau khi rơi xuống đáy giếng, ta bàng hoàng phát hiện nơi đây chất đầy h/ài c/ốt, lại còn có một cỗ qu/an t/ài đỏ tươi.
Nắp qu/an t/ài chậm rãi mở ra, bàn tay vươn ra trắng bệch như tờ giấy:
“Đợi ngươi đã ba kiếp rồi...”
Ngày hôm sau, ta bình yên vô sự trở về thôn, sau lưng đi theo một nam nhân cầm ô đỏ.
Y mỉm cười với ta:
“Nương tử, kẻ nào đẩy nàng xuống, chúng ta liền tìm kẻ đó tính sổ...”
---
1 Hoàng hôn nhuốm m/áu, người thân đẩy tay
Ta cả đời này không quên được lực tay của bà nội khi đẩy ta, cũng không quên được ánh mắt cuối cùng bà nhìn ta—trong đó chẳng có mấy phần áy náy, ngược lại giống như… giống như vừa vứt bỏ được một gánh nặng cực lớn, bỗng chốc nhẹ nhõm hẳn.
Thôn của ta, ẩn sâu trong góc núi, trên bản đồ cũng chẳng tìm thấy.
Núi non bao bọc xung quanh cao vút và dốc đứng, hơn nửa năm trời bị sương m/ù xám trắng bao phủ kín mít, trông chẳng khác nào một cỗ qu/an t/ài khổng lồ.
Những ngôi nhà cũ trong thôn đều đen đúa, lớp vôi tường bong tróc, lộ ra những rui gỗ tối tăm bên trong.
Người lớn trẻ nhỏ, trên mặt đều phủ một lớp bụi, ánh mắt đờ đẫn, chẳng chút sinh khí.
Nhưng nếu nói nơi tà dị nhất trong thôn, thì phải kể đến cái giếng cấm ở sau núi kia.
Cái giếng đó có từ bao giờ, chẳng ai nói rõ được.
Miệng giếng được xây bằng đ/á xanh mài nhẵn, trên đó bò đầy rêu phong ẩm ướt, nhớp nháp.
Miệng giếng đen ngòm đ/áng s/ợ, sâu không thấy đáy, giữa mùa hè nóng nực chỉ cần đưa tay lại gần miệng giếng, cũng có thể cảm nhận được luồng khí lạnh thấu xươ/ng.
Chó trong thôn, dù hung dữ đến mấy, đi ngang qua giếng đó đều phải cụp đuôi, rên rỉ vòng đường khác, chưa từng dám lại gần trong phạm vi mười bước.
Những lời đồn thổi về cái giếng ấy, cứ thế truyền từ đời này sang đời khác.
Có kẻ nói nó thông thẳng xuống điện Diêm Vương, có kẻ lại bảo nó giam giữ một con yêu quái ăn th!t người. Tóm lại là vô cùng tà quái.
Mà tất cả những lời đồn đó, đều chỉ về một quy củ—Tế Sơn Thần.
…
Khi còn bé ta không hiểu chuyện, cũng như bao đứa trẻ khác, chen chúc giữa đám người già nghe họ lảm nhảm.
Nghe kể rằng hơn trăm năm trước, khi triều Đại Thanh vừa sụp đổ, thế đạo lo/ạn lạc vô cùng.
Có một toán tàn binh bị đá/nh tan tác, tay lăm lăm đ/ao thương cư/ớp bóc đến tận đây.
Đó đều là những kẻ sát nhân mắt đỏ ngầu, vừa vào thôn đã cư/ớp lương thực, h/ãm h/ại phụ nữ, nhìn tình cảnh đó chẳng mấy chốc thôn sẽ bị chúng tàn sát.
Tộc trưởng khi ấy cũng là một kẻ tà/n nh/ẫn, đã nghĩ ra một cách chẳng đặng đừng.
Ông ta dẫn theo vài người chủ chốt trong thôn, giả vờ đầu hàng, dùng rư/ợu ngon th!t tốt dụ dỗ toán tàn binh đó lên sau núi, nói rằng trong núi có hang động giấu báu vật.
Đám s/úc si/nh đó tin thật, kết quả đều bị dẫn vào hang động đó (chính là tiền thân của cái giếng cấm).
Khi người đã vào hết, đám thanh niên trai tráng canh giữ bên ngoài liền ùa lên, dùng đ/á tảng và đất ẩm đã chuẩn bị sẵn, ầm ầm một tiếng, bịt ch/ặt cửa hang lại.
Người đều bị ch/ôn sống bên trong, chẳng một ai thoát ra được.
…
Từ đó về sau, thôn được bảo toàn, nhưng chuyện quái dị cũng theo đó mà đến.
Đầu tiên là nước giếng trở nên mặn chát, mang theo mùi rỉ sắt không sao rửa sạch.
Tiếp đến trong thôn gà chó không yên, không phải bò nhà đông bị x/é nát cổ họng giữa đêm khuya, thì là đứa trẻ nhà tây bỗng nhiên sốt cao nói nhảm, chỉ tay ra ngoài cửa sổ mà hét:
“Nhiều người quá… m/áu nhiều quá…”
Tộc trưởng khi ấy, để trấn an “oán khí” này, đã nghĩ ra một phương pháp thất đức—mỗi năm vào dịp này, lại ném một người sống xuống cái giếng được đào ngay tại vị trí cửa hang năm xưa.
Mỹ miều gọi là “dâng lên Sơn Thần để xoa dịu cơn gi/ận”, thực chất chính là dùng sinh khí của người sống để trả món n/ợ trăm năm trước.
Quy củ này, cứ thế truyền lại qua bao năm, trở thành thiết luật cứng rắn nhất, không ai được phép chạm vào trong thôn.
…
Sau khi ta lớn lên, có đi trấn đọc sách vài năm, hiểu rằng đây đều là m/ê t/ín d/ị đo/an, là thứ hại người.
Ta đã cãi nhau với bà nội, nói rằng đây là phạm pháp!
Bà nội luôn sợ hãi đến tái mét mặt mày, bịt ch/ặt miệng ta lại:
“Tiểu tổ tông! Không được nói bậy! Để Sơn Thần nghe thấy, sẽ giáng tai họa lớn xuống đấy!”
Ta không phục, nhưng vô dụng.
Ở trong cái thôn này, quy củ cũ còn lớn hơn cả trời.
Mà năm nay, đến lượt nhà ta.
…
Việc bốc thăm được tiến hành trong từ đường của thôn, dưới ánh đèn dầu mờ ảo, gương mặt già nua của thôn trưởng nhăn nheo như miếng vỏ quýt khô.
Trên tay ông ta nâng một cái hũ gốm đen, miệng lầm bầm đọc chú. Cha mẹ ta đứng bên dưới, đầu cúi thấp, vai run bần bật.
Trong lòng ta dồn nén một ngọn lửa, lại cảm thấy từng đợt lạnh lẽo.
Khi chiếc thẻ tre vẽ ký hiệu đỏ như m/áu rơi từ trong hũ ra, chỉ thẳng vào ta,
đầu óc ta ong lên một tiếng.
Mẹ ta lập tức mềm nhũn ngã xuống đất, khóc không ra hơi.
Cha ta đột ngột ngẩng đầu, môi r/un r/ẩy, muốn nói gì đó, nhưng lại bị ánh mắt của thôn trưởng trừng ngược trở lại.
“Nhà Lâm Vãn, đây là ý chỉ của Sơn Thần.”
Giọng thôn trưởng khô khốc, không chút độ ấm,
“Chuẩn bị đi, đừng để lỡ giờ lành.”
…
Những ngày tiếp theo, nhà ta cứ như thể có người ch*t.
Cha ta ngồi xổm trên ngưỡng cửa, không ngừng rít th/uốc lào, không dám nhìn ta.