“Tám mươi ba nghìn sáu trăm hạt, Thẩm Văn Hạc đã ứng trước ba vạn. Số còn lại khấu trừ từ kho riêng, bổng lộc và tiền thưởng trong tộc của ngươi. Ký tên.”

Thẩm Thanh Linh nhìn tờ đơn, hồi lâu không động đậy.

“Ta đã thế này rồi, ngươi còn đòi n/ợ?”

“Cơm tù cũng đâu có miễn phí.”

Nàng bỗng cười một tiếng, cười xong thì nước mắt rơi xuống. Nàng dùng tay áo mạnh mẽ lau đi, không muốn để ta nhìn thấy nhiều hơn.

“Ôn Đăng, ngươi thật đáng gh/ét.”

“Ký tên.”

Nàng cầm bút, tay run lên mấy cái, cuối cùng cũng ký tên mình xuống.

“Sau lưng Hứa Hạc Niên còn có người.”

Ta thu tờ đơn bồi thường lại.

“Ai?”

“Ta không biết tên. Họ chỉ gọi người đó là Lão tiên sinh. Mỗi lần Hứa Hạc Niên nhận được tiền cấp phát, đều chia một phần gửi đến Bắc Thành Cựu Thư Viện.”

“Bằng chứng?”

“Chim truyền chữ của ta từng thấy lộ trình. Con chim đó ở nhà trạm tộc Thanh Loan, bị giám sát lại thu giữ rồi.”

Ta đứng dậy.

Thẩm Thanh Linh đột nhiên gọi ta lại.

“Ôn Đăng.”

Ta quay đầu.

Nàng cắn môi, như thể đang nhai nát chút kiêu ngạo cuối cùng rồi nuốt xuống.

“Ngày ở giếng phố Tây, ta thực sự không ngờ sẽ làm tổn thương dân chúng.”

“Ngươi chỉ là không ngờ sẽ bị người khác nhìn thấy.”

Sắc mặt nàng trắng bệch.

Ta đẩy cửa bước ra, Lục Sương Y đang đợi ở hành lang.

“Nàng ta nói gì?”

Ta nói cho nàng nghe ba chữ Cựu Thư Viện.

Lục Sương Y nhíu mày.

“Bắc Thành Cựu Thư Viện đã bỏ hoang hai mươi năm rồi.”

“Nơi bỏ hoang là nơi thích hợp nhất để giấu sổ sách.”

Cuối hành lang, Cố Minh Đài đang đứng trong bóng tối với chiếc ô đen.

“Cựu Thư Viện không phải nơi giấu sổ sách.”

Ông bước tới, giọng hạ thấp xuống.

“Nơi đó đang đ/è một chiếc ấn cũ khác.”

Bắc Thành Cựu Thư Viện nằm ở cuối con hẻm hoang. Biển treo cửa rơi mất một nửa, tường viện đầy dây leo khô. Cố Minh Đài dẫn Lục Sương Y, Tạ Huyền Lân, Tần Phong và ta đi vào. Tước Cửu nhất quyết muốn theo, nhưng bị ta phái đi canh giữ phòng sổ sách. Nàng làu bàu:

“Lần nào nguy hiểm cũng không mang ta theo.”

Ta nói:

“Phòng sổ sách nguy hiểm hơn. Cóc thúc sẽ bị người ta lừa.”

Cóc thúc ở phía sau phản đối:

“Tôi sẽ không.”

Tước Cửu lập tức quay người:

“Vậy thì ta nhìn chằm chằm ông, đảm bảo ông không bị lừa.”

Trong Cựu Thư Viện rất lạnh.

Không phải cái lạnh của mùa đông, mà là cái lạnh mà ánh đèn không thể chiếu tới mặt sau của tờ giấy. Dưới hành lang treo một hàng lồng chim trống rỗng, cửa lồng đều mở toang.

Lục Sương Y nhặt được tro lông vũ màu xanh từ đáy một chiếc lồng.

“Chim truyền chữ bị đ/ốt rồi.”

Cố Minh Đài nói:

“Tìm sổ sách.”

Chính đường thư viện thờ một tấm biển gỗ không chữ. Trước biển gỗ đặt tro hương tươi mới, trong hương trộn lẫn mùi tế hương của tộc Thanh Loan và mực ấn Thanh Linh.

Tạ Huyền Lân nhìn ta.

“Có phản ứng khế ước đèn không?”

Ta thắp đèn, ngọn lửa nghiêng về phía tấm biển gỗ. Tần Phong xách đ/ao bước lên, mũi đ/ao hất tấm biển gỗ ra. Sau bức tường lộ ra một cánh cửa bí mật.

Bên trong cửa không phải mật thất, mà là một lối đ/á đi xuống. Hai bên lối đi khắc chữ cổ, nét chữ bị cào xước, chỉ có thể nhìn ra vài từ rời rạc.

Ấn cũ, Thanh Linh, mượn mệnh.

Sắc mặt Lục Sương Y ngưng trọng.

“Đây không phải kho sổ sách, là phòng sửa ấn.”

Chúng tôi đi xuống tận cùng, dưới tầng hầm đặt một bàn đ/á. Trên bàn đ/á có nửa chiếc ấn tàn, bên trong ấn không phải sông cầu giếng đèn, mà là một con mắt đang nhắm lại.

Cố Minh Đài dừng bước.

“Quan Tội Ấn.”

Tạ Huyền Lân hỏi nhỏ:

“Đó là gì?”

“Chiếc ấn dùng để thẩm vấn yêu quái thời xưa. Có thể soi ra tội, cũng có thể chuyển tội sang người khác. Hai mươi năm trước đã bị cấm.”

Ta nhìn nửa chiếc ấn tàn đó.

Khi ánh đèn chiếu vào, trong ấn nổi lên rất nhiều cái tên. Hứa Hạc Niên, Triệu Văn, Phó sứ Thanh Linh Ty, Chưởng sự kho tộc Thanh Loan. Sau mỗi cái tên, còn có một cách gọi bị cào mất.

Lão tiên sinh.

Tần Phong phát hiện ra một chiếc rương sắt dưới bàn đ/á.

Bên trong rương không phải đậu vàng, mà là một xấp văn thư xử lý. Mỗi một tờ văn thư đều viết: Thanh trừ tư linh sau thời Dân Quốc. Tên khác nhau, nhưng kết quả giống nhau.

Dập tim đèn, phong ấn khí, tịch thu tài sản.

Lục Sương Y lật đến tờ cuối cùng, tay nàng khựng lại.

Trên đó viết: Ôn Đăng, đèn sen cũ, dự định sau khi thanh trừ sẽ lấy quyền điểm lửa Sơn Hà, chuyển vào Quan Tội Ấn.

Tạ Huyền Lân đ/ấm mạnh một quyền vào vách đ/á.

“Ngay từ đầu chúng không phải vì Sơn Hà Ấn.”

Giọng Cố Minh Đài trầm xuống.

“Chúng muốn dùng quyền điểm lửa của Ôn Đăng để khởi động lại Quan Tội Ấn.”

Ta hỏi:

“Để làm gì?”

Lục Sương Y nói:

“Ai nắm Quan Tội Ấn, người đó có thể khiến kẻ mang tội trở nên vô tội, và khiến kẻ vô tội phải gánh tội.”

Tần Phong ch/ửi thề một tiếng.

Trong phòng đ/á bỗng vang lên tiếng vỗ tay.

Phía trên cánh cửa bí mật, một giọng nói già nua truyền đến.

“Tổng tư lệnh Cố, tới nhanh hơn ta tưởng.”

Chúng tôi ngẩng đầu.

Một ông lão mặc áo học trò cũ đứng ở cửa lối đi, tay cầm nửa cái cán ô đen.

Sắc mặt Cố Minh Đài lạnh đi.

“Triệu sư.”

Ông lão cười.

“Gọi là Lão tiên sinh đi. Tình nghĩa thầy trò, tối qua khi ngươi bắt Triệu Văn là đã đ/ứt đoạn rồi.”

Lão tiên sinh Triệu Hoài Chương từng là thầy của Cố Minh Đài. Câu này là Lục Sương Y kể cho ta nghe sau đó. Lúc ấy trong phòng đ/á không ai rảnh để nói chuyện cũ.

Triệu Hoài Chương gõ cán ô lên cánh cửa bí mật, cửa đ/á ầm ầm sập xuống. Dưới tầng hầm chỉ còn Quan Tội Ấn tàn trên bàn đ/á là đang phát sáng.

Cố Minh Đài mở ô đen, mặt ô chặn lại tia sáng xám đầu tiên.

“Triệu Hoài Chương, Quan Tội Ấn đã bị cấm hai mươi năm rồi.”

Triệu Hoài Chương đứng trên bậc đ/á, giọng điệu không nhanh không chậm.

“Cấm là cấm lạm dụng, không phải là không được dùng. Nay tư linh nổi lên khắp nơi, các xứ địa phương cát cứ, Tổng ty cần một chiếc ấn có thể nhìn thấy tội.”

Ta nói:

“Nhìn thấy tội, hay là sửa được tội?”

Ánh mắt lão rơi vào người ta.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Đêm hạ màn, nàng trút bỏ lớp phấn son

Chương 7
Giới thiệu: Trình Thính Tuyết đã đi theo sư huynh Thương Úc tám năm, từ lúc bắt đầu luyện giọng cho đến khi trở thành đào kép chính có thể gánh vác sân khấu. Thế nhưng vào đêm bế mạc, anh lại tự tay đặt chiếc mũ phượng lên đầu sư muội nhỏ. Cô không quậy phá, cũng chẳng rơi lệ, chỉ lặng lẽ tẩy trang rời đi, để lại trên gương dòng chữ: "Vở kịch tám năm, tôi đã hát xong rồi". Hai năm sau, cô trở thành đào kép trụ cột của viện kịch tỉnh, bên cạnh đã có Tạ Từ – người thực sự trân trọng cô. Thương Úc hối hận không kịp, nhưng mọi thứ đã quá muộn màng. Đây là một câu chuyện đau lòng nhưng cũng đầy hả hê về giới nghệ thuật hí khúc, viết nên trọn vẹn những chân tình bị phụ bạc và sức mạnh của sự độc lập, tái sinh.
Hiện đại
0