Bà nhẹ nhàng đặt con chó vàng xuống, chạy lại chỗ ta, vẻ lúng túng nhìn Chúc Trinh Nhi: "Trinh Nhi, con dẫn nó về mà chẳng báo ta một tiếng, để ta còn hầm sẵn chân giò lớn cho các con ăn."
Trinh Nhi cười nói: "Việc gì phải phiền hà? Nhân tiện chúng ta về, cùng nương ch/ôn cất Đại Hoàng trước, rồi hẵng đi hầm chân giò."
Chúng ta ch/ôn chú chó nhỏ phía sau m/ộ của cha.
Nương bảo, đợi sau này bà qu/a đ/ời, sẽ nằm cạnh chú chó nhỏ.
Nhìn tấm bia m/ộ của cha, bà bĩu môi: "Lão già nhà các con chẳng phải người tốt lành gì, ngày thành thân đã b/ắt n/ạt ta rồi."
Nương cũng nói nhiều y hệt ta, trên đường về nhà, cứ lải nhải kể chuyện xưa.
Bà và cha vốn là hàng xóm từ nhỏ, thanh mai trúc mã, tình thâm ý nồng.
Năm nương gả cho cha, chiến lo/ạn n/ổ ra khắp nơi.
Ông muốn xuất chinh, lại không chịu nổi cảnh nương ép gả, đành dỗ dành bà rằng có thể thành thân.
Ai ngờ sau khi bái đường xong, ông lặng lẽ khoác lên vai cây thương đỏ rồi bỏ đi.
Nương mặc áo cưới, băng qua những luống cày bờ ruộng.
Trong biển hoa trà đỏ rực, bà là tân nương áo đỏ chói lọi nhất.
Cha bị bà đuổi kịp, vừa gặp mặt đã ăn ngay một cái t/át đ/au điếng từ cô nương tốt.
Kẻ đá/nh, người chịu đò/n, đều đỏ hoe mắt mà rơi lệ.
Cha bảo, sợ bà phải thủ tiết.
Nương lại nói: "Chúc Nhị Lang, chàng đừng có mà coi thường ta! Dù chàng có tử trận nơi sa trường, dù ta có phải một mình nuôi con, ta vẫn sống tốt cho chàng xem!"
"Ta... ta chỉ là muốn gả cho chàng một lần thôi."
Tuy tụ ít ly nhiều, sau đó họ cũng sinh ra ta, cũng từng đoàn tụ vài lần.
Cho đến năm ta một tuổi.
Nương hồi tưởng chuyện cũ, vừa hầm chân giò vừa thẫn thờ lẩm bẩm:
"Ta không biết chữ, lúc đó nhận được thư nhà, cứ ngỡ là ông ấy sắp về. Kết quả ta tìm thầy lang trong thôn đọc xong, mới biết đó là di thư."
Thấy ta và Trinh Nhi đều rủ mắt đ/au lòng, nương lập tức cười tươi một tiếng: "Chúc Nhị Lang là kẻ nghèo rớt mùng tơi, chỉ để lại một chuỗi đồng xu và hai chiếc vòng bạc. Các con sau này muốn gả chồng, nhất định phải chọn kẻ giàu có mới tốt!"
Ta phụ họa nương để khuấy động bầu không khí: "Không chỉ phải giàu, kẻ đoạn tụ, kẻ không thể viên phòng, kẻ sủng thiếp diệt thê, tất cả đều không được lấy."
Nương lập tức nắm bắt trọng điểm, đôi mắt mở tròn xoe, sáp lại gần ta: "Quan lại quyền quý cũng có những thói hư tật x/ấu này sao? Nhất định phải kể chi tiết đấy nha nha đầu, kể chưa xong không được đi đâu."
Đêm đó, ba chúng ta nằm trên một chiếc giường đất.
Chuyện nhà chuyện cửa mười mấy năm trời, kể hết nhà này đến nhà kia, Chúc Trinh Nhi nghe đến say sưa, còn ta và nương thì cảm thấy gặp nhau quá muộn.
Nghe mãi, ta dần phác họa ra cuộc sống của nương sau khi cha qu/a đ/ời:
Bà gồng mình gánh vác, nuôi dạy con gái khôn lớn.
Việc đồng áng đàn ông trong thôn làm được, hai mẹ con bà đều cáng đáng hết.
Xuân hạ cày cấy, thu hoạch vào mùa thu, mùa đông lại gánh bánh đi b/án ở trấn trên.
Sau này hai mẹ con ki/ếm được không ít tiền, sửa sang lại sân vườn, còn xây cho chó Đại Hoàng một cái ổ thật oai vệ.
Người trong thôn sau lưng bàn tán, bảo rằng hoặc là nương tư thông với gã nhà giàu nào đó, hoặc là ép con gái đi b/án thân, mới có nhiều tiền như vậy.
Nương kh/inh khỉnh cười nhạt: "Chua xót không ch*t được bọn họ đâu! Trời quang mây tạnh, soi sáng lòng dạ mẹ con ta trong sáng vô ngần, đến ngày thực sự nhắm mắt xuôi tay, đám tiểu nhân đó phải cõng ta mà thành tiên thôi!"
Chúng ta cười phá lên, nương cũng cười theo.
Đang cười, bà lại thở dài một tiếng.
"Ta mắt sáng lòng trong cả đời, chỉ duy nhất một việc là hồ đồ."
Đó chính là việc tráo đổi ta.
Năm ta hai tuổi, dị/ch bệ/nh lan tràn khắp kinh thành.
Nghe nói trụ trì chùa Hộ Quốc có phương th/uốc, bất kể sang hèn đều thu nhận c/ứu chữa.
Thế là bao người ôm con cái b/ệnh nặng đến cửa, chen chúc nhau, dù là phủ đệ cao sang hay dân thường cũng đều tụ tập một chỗ.
Lúc đó nhiều đứa trẻ quá nhỏ, không qua khỏi.
Đợi đến khi nương chen lên phía trước xem, những đứa trẻ lớn nhỏ đều được quấn trong áo cà sa.
Bà khó khăn lắm mới nhận ra vết bớt bằng móng tay trên bụng con gái, nghẹn ngào cảm tạ trời đất vì con vẫn còn sống, cũng chẳng màng đến việc có nhầm lẫn hay không.
Nào ngờ vận mệnh trớ trêu, trên người Chúc Trinh Nhi ở vị trí tương tự cũng có một vết bớt rất giống ta.
Vì vậy bao năm qua, hai nhà đều không phát hiện ra việc tráo đổi.
Cho đến mùng một tháng trước, nương bận rộn cày cấy, để Chúc Trinh Nhi một mình đến chùa Hộ Quốc thắp hương trả lễ.
Phu nhân tướng phủ cũng thắp hương trong cùng điện đó, một cơn gió lạ cuốn theo tro hương làm cay mắt bà.
Đợi đến khi nhìn rõ, bà lập tức dán mắt vào Chúc Trinh Nhi đang quỳ lạy trên bồ đoàn trước mặt.
Trinh Nhi quá giống tướng gia, lại hỏi ra trên bụng nàng cũng có vết bớt, thế là nhận nhau ngay lập tức.
Nương bảo, vừa nghe tin tráo đổi con gái, vừa mất mát, lại vừa mừng rỡ.
Ta hiểu tâm trạng của bà, bèn đùa hỏi: "Nương, vậy người muốn giữ Trinh Nhi ở lại, hay muốn giữ con hơn?"
Bà suy ngẫm hồi lâu.
Ánh trăng trong vắt xuyên qua khe cửa sổ, trong tiếng ve kêu, mùa hạ tĩnh lặng tốt đẹp.
"Chỉ cần các con sống tốt, không ở bên cạnh ta cũng chẳng sao."
Ta và Chúc Trinh Nhi tất nhiên đều không đành lòng để bà cô quạnh một mình.
Nhưng ai ngờ thế sự vô thường, nương lại nói lời tiên đoán.
Sau này, chúng ta đều không thể ở bên cạnh bà...
Khi ta và nương nhận lại nhau, là vào khoảng tiết Mang Chủng, không ít rau dại đang xanh mướt.
Vì cái vị tươi ngọt này, ta ở lại trong thôn, mỗi ngày cùng nương đi hái rau dại tươi về ăn.