Máy hút mùi gầm rú. Tóc mái của cô bị hơi nước làm ướt, bết dính trên trán. Dầu trong nồi b/ắn ra, làm bỏng mu bàn tay cô, cô khẽ "xuy" một tiếng, vẩy vẩy tay rồi tiếp tục lật nồi.
Cô chưa bao giờ cười trước mặt anh.
Không phải là không biết cười. Mà là trước mặt anh, số lần cô cười ngày càng ít đi.
Anh không nhớ nổi là từ khi nào nữa.
"Anh Cố? Anh đang nghĩ gì thế?"
Giọng Ôn Mạn kéo anh trở về thực tại.
"Không có gì."
Anh cầm trà sữa lên, uống một ngụm.
Quá ngọt.
Anh không thích đồ ngọt.
Thẩm Quân biết điều đó. Cô pha trà cho anh chưa bao giờ bỏ đường.
Anh đặt cốc trà sữa xuống, không uống nữa.
---
Buổi tối trở về nhà.
Chìa khóa cắm vào ổ, xoay nhẹ. Cửa mở.
Chiếc đèn ngủ nhỏ ở huyền quan--
Vẫn tắt.
Anh đưa tay mò mẫm trên tường một lúc lâu mới tìm thấy công tắc, "tách" một tiếng bật sáng đèn trần.
Ánh sáng trắng bệch hắt xuống.
Trên kệ giày ở huyền quan trống mất một ngăn.
Đôi giày vải của cô không còn nữa.
Anh thay dép đi vào phòng khách. Trên bàn trà đặt điều khiển từ xa, một hộp khăn giấy, một chiếc cốc. Chiếc cốc sứ của cô đã biến mất--cái màu hồng, vẽ một con mèo, là tự cô m/ua.
Cửa bếp đang mở.
Anh bước vào.
Bếp được lau chùi sạch bong. Lưới lọc của máy hút mùi đã được rửa sạch và đang đặt trên giá để ráo nước. Trên giá úp bát đĩa xếp ngay ngắn bát, đĩa, đũa.
Mọi thứ đều ngăn nắp.
Giống như một mẫu vật.
Anh mở tủ lạnh, lấy túi sủi cảo đông lạnh ra.
Luộc sủi cảo thì cần bao nhiêu nước?
Anh không biết.
Lửa lớn hay lửa nhỏ?
Anh không biết.
Nước sôi mới cho sủi cảo vào hay cho vào từ nước lạnh?
Anh không biết.
Anh cầm túi sủi cảo đứng trước bếp, đứng mất hai phút.
Rồi mở điện thoại, tìm ki/ếm: "Cách luộc sủi cảo đông lạnh."
Kết quả đầu tiên:
"Cho nước vào nồi, đun lửa lớn cho sôi, cho sủi cảo vào, đun lửa vừa cho đến khi sủi cảo nổi lên, cho thêm một chút nước lạnh, đun sôi lại lần nữa là vớt ra được."
Anh làm theo.
Khi nước sôi, hơi nước bốc lên, phả vào mặt anh, mắt kính phủ một lớp sương mờ.
Anh bưng bát sủi cảo đã luộc hơi nát ra, ngồi trước bàn ăn.
Đũa gắp một chiếc.
Vỏ rá/ch rồi, nhân rơi ra trong nước dùng.
Anh ăn một miếng.
Quá mặn.
Anh lại ăn thêm miếng nữa.
Vẫn quá mặn.
Anh đặt đũa xuống, ngả người ra sau lưng ghế.
Chiếc ghế đối diện vẫn trống không.
Ngày hôm qua cô vẫn ngồi ở đó.
Đôi đũa gắp một miếng th!t kho vững vàng.
Anh nói "ly hôn".
Cô nói "được".
Ngay cả nhịp điệu nhai cũng không thay đổi.
Lúc đó anh cảm thấy--cô thật m/áu lạnh.
Giờ đây ngồi trước bàn ăn trống trải, đối diện với bát sủi cảo luộc nát, anh bắt đầu suy nghĩ về một vấn đề:
Một người phải thất vọng đến mức nào, mới có thể khi nghe hai chữ "ly hôn" mà ngay cả mí mắt cũng không thèm chớp lấy một cái?
Vấn đề này anh suy nghĩ rất lâu.
Sủi cảo nguội rồi.
Anh không ăn hết.
---
Văn phòng của Bùi D/ao nằm ở tầng 11 của một tòa cao ốc phía nam thành phố.
Không lớn, hơn hai trăm mét vuông. Lễ tân, phòng họp, bốn chỗ ngồi, một phòng vật liệu. Cửa sổ hướng nam, ánh sáng buổi sáng có thể chiếu vào nửa căn phòng.
Khi tôi đẩy cửa bước vào, Bùi D/ao đang đứng trước bảng trắng họp với hai nhà thiết kế. Thấy tôi, cô ấy hất cằm, nháy mắt về phía góc phòng.
"Ở đó."
Ở vị trí góc cạnh cửa sổ có một cái bàn.
Trên mặt bàn phủ một lớp bụi mỏng.
Một ống cắm bút bằng sắt đặt ở góc bàn, bên trong cắm sáu chiếc bút dạ, hai chiếc bút chì, một chiếc bút kim. Nắp bút dạ có cái đã lỏng lẻo, cắm xiêu vẹo.
Bên cạnh là một chiếc đèn bàn, trên đế đèn dán một miếng nhãn nhỏ--
"Của Thẩm Quân. Cấm chạm. -- Bùi D/ao"
Nét chữ viết bằng bút dạ đen, nét bút đậm đến mức ấn xuyên cả giấy nhãn.
Tôi đứng trước bàn.
Ba năm rồi.
Tôi đưa tay rút một chiếc bút dạ. Loại 0.5 màu xám, lớp sơn trên thân bút đã bong tróc một mảng.
Tháo nắp bút.
Ngòi bút đã khô.
Tôi đậy nắp bút lại, đặt về ống cắm bút. Đổi sang một chiếc bút chì. Loại 2B, gọt vẫn còn khá nhọn.
Trên bàn có một xấp giấy nháp.
Tôi rút một tờ, trải phẳng.
Bút chì đặt lên mặt giấy.
Ngón tay hơi cứng lại. Chỗ hổ khẩu cầm bút có một vết chai cứng--không phải do vẽ tranh tạo thành, mà là do c/ắt thái rau củ.
Tôi hít một hơi thật sâu.
Vẽ nét đầu tiên.
Tay đang run. Đường nét méo mó, giống như một con giun đang bò trên giấy.
Tôi x/é tờ giấy đó đi.
Tờ thứ hai.
Vẫn run.
Tờ thứ ba.
Tờ thứ tư.
Đến tờ thứ năm, tay không run nữa.
Đường nét bắt đầu nghe lời.
Tôi vẽ một không gian--một góc nhìn từ trên xuống của một quán cà phê. Hình chữ nhật sáu mét nhân tám mét. Quầy bar nằm bên trái, ba hàng ghế cạnh cửa sổ, ở giữa để lối đi.
Vẽ mãi, bút chì bắt đầu chạy nhanh hơn cả n/ão.
Cửa sổ sát đất phải mở ở phía nam, vị trí đón sáng tốt nhất đặt hai chiếc ghế cao. Mặt quầy bar dùng gỗ óc chó sẫm màu, bo tròn các góc. Hàng ghế sát tường làm thành ghế sofa nửa kín, đệm mềm dùng màu xanh rêu. Sàn nhà--
Sàn nhà dùng đ/á mài. Nền xám trắng, khảm thanh đồng viền cạnh.
Trần nhà không làm trần giả.
Đường ống lộ thiên sơn màu đen lì. Đèn chọn loại đèn thả trần bằng đồng, hình chiếc ô, rủ xuống thấp 1,6 mét, ngồi vào vị trí vừa vặn không che khuất tầm nhìn nhưng ánh sáng có thể bao phủ trọn vẹn mặt bàn.
Tôi vẽ suốt một tiếng đồng hồ.