Khi bước ra, người đã g/ầy gò đến mức không còn hình dáng cũ, tóc bạc trắng cả đầu.
Tội danh không thành, nhưng nhà tan, danh tiếng mất sạch. Cửa tiệm bị nhà họ Trần chiếm đoạt, ruộng dâu bị nhà họ Trần nuốt chửng.
Ngoại tổ phụ đứng trước cổng từ đường nhà họ Thẩm, niêm phong trên cửa vẫn chưa x/é sạch. Ông nhìn một lúc rồi quay người bỏ đi.
Đêm đó, ông gieo mình xuống sông.
Khi mẹ ta kể đến đây, giọng bà bình thản, bình thản như đang kể chuyện của người khác. Nhưng ta nhìn thấy tay bà đang run, run đến mức không thể cầm kim kh//âu.
"Ngoại tổ mẫu con năm sau cũng mất. B/ệnh mà ch*t."
Mẹ ta chạy nạn đến thành Vĩnh An, đổi tên đổi họ, gả cho cha ta. Mười tám năm rồi, bà chưa từng nhắc lại chuyện nhà họ Thẩm.
"Ta không dám nhận chữ, không dám để người ta biết ta từng đọc sách. Người của Trần Cẩm Vinh từng lên tiếng, hậu nhân nhà họ Thẩm, dù là một người cũng không tha.
Nếu ta lộ ra chút sơ hở, con và cha đều không sống nổi."
Ta nhìn mẹ. Người đàn bà ngày ngày bận rộn trong bếp, người đàn bà ngồi xổm dưới đất cọ rửa nước bẩn, người đàn bà bị quản sự xưởng thêu chê "đường kim mũi chỉ quê mùa" mà không dám phản bác –
Bà biết chữ, bà biết tính toán. Bà cái gì cũng hiểu, chỉ là không thể nói.
Còn chiếc bối tử kia, là do Tạ Vân Cẩm làm.
Huynh trưởng của Tạ Vân Cẩm là Tạ Duy Viễn, đỗ đạt tiến sĩ, làm quan thanh liêm cả đời, ch*t trên ghế quan mà đến một cỗ qu/an t/ài tử tế cũng không m/ua nổi.
Nhưng bản tấu chương vạch tội cuối cùng trước khi ông qu/a đ/ời, người bị vạch trần chính là Trần Cẩm Vinh.
Tạ Duy Viễn không lật đổ được Trần Cẩm Vinh, bản thân lại mất mạng.
Tạ Vân Cẩm vẫn luôn nhờ người tìm mẹ ta, tìm suốt mười năm, cuối cùng đã tìm thấy ở thành Vĩnh An.
Mẹ ta không muốn quay về. Quay về để làm gì? Nhà họ Thẩm không còn, ngoại tổ phụ không còn.
Tạ Vân Cẩm hiểu bà, không ép bà, nhưng mỗi năm đều làm một bộ y phục nhờ người gửi đến, chưa từng lộ diện.
Phía trong cổ áo mỗi bộ y phục đều thêu một đóa vân văn nhỏ xíu.
Mẹ ta nói: "Bà ấy đang nói với ta rằng bà ấy vẫn còn đó. Bà ấy không quên ta."
Đêm đó, ta niệm tên ngoại tổ phụ trong lòng hơn mười lần: Thẩm Hạc Đình.
Một người bị oan uổng đến mức gieo mình xuống sông t/ự v*n. Mà kẻ hại ông, vẫn đang sống rất tốt.
Ngoại tổ phụ, những việc người chưa làm xong, để con làm.
Ngày đầu tiên Tạ Uẩn Văn đến lương hành, ta mang sổ sách ba tháng gần nhất ra, bảo chàng xem từ đầu đến cuối.
Chàng ngồi trước bàn kế toán, xem từ sáng đến chiều tối, giữa chừng chỉ uống hai bát nước, ăn một cái bánh bao lạnh.
Ta bưng cho chàng một bát canh nóng, chàng uống một ngụm rồi đặt xuống, mắt không hề rời khỏi sổ sách.
Chiều tối, chàng khép cuốn sổ cuối cùng lại, cầm bàn tính gảy lạch cạch một hồi, sau đó lấy tờ giấy viết ra kết luận.
Ta nhận lấy xem, sững sờ.
Chàng tính còn chuẩn hơn cả ta: việc làm ăn ki/ếm lời nhất của lương hành là b/án lẻ gạo nếp và đậu xanh, còn thua lỗ là tuyến đường vận chuyển về phía nam – đường xa, hao hụt lớn, trạm kiểm soát thu phí nhiều, một tháng lỗ hơn năm lượng.
Còn một vấn đề ta không chú ý tới: trong sổ có một khoản "chi tiêu vặt", số lượng không nhỏ nhưng không có chi tiết, tháng nào cũng có, người phụ trách là một lão bộc.
Chàng nghi ngờ có người khai khống.
Sau đó ta tra ra, quả nhiên là một lão bộc họ Lưu trong tiệm, làm việc hơn mười năm rồi, mỗi tháng khai khống hơn một lượng chi phí vặt bỏ vào túi riêng.
Ta xử lý lão bộc đó, không báo quan, bắt lão nôn ra số tiền đã tham ô rồi đuổi đi.
Đối với Tạ Uẩn Văn, ta nhìn chàng bằng ánh mắt khác.
"Trước đây chàng thực sự chưa từng làm việc ở lương hành?" "Chưa từng."
"Vậy sao chàng biết tính những thứ này?" Chàng suy nghĩ một chút: "Trong sổ sách đều có cả, ta chỉ là đọc hiểu nó thôi.
Bá phụ lúc sinh thời từng dạy ta, nhìn sự việc đừng chỉ nhìn bề ngoài, phải nhìn sâu vào một lớp nữa. Ông nói bí mật của rất nhiều người đều giấu ngay trên bề mặt."
Ta cười. Người trông có vẻ đờ đẫn này, trong lòng lại sáng suốt hơn bất cứ ai.
Ngày tháng trôi qua. Sự trả th/ù của nhà họ Trương vẫn chưa dừng lại.
Trương Văn Viễn thỉnh thoảng lại lảng vảng trước cửa lương hành muốn gây sự, nhưng không dám bước vào.
Bởi vì Quảng Nguyên lương hành có chỗ dựa là Tiền đông gia ở tỉnh thành, mà mối qu/an h/ệ của Tiền đông gia ở tỉnh thành còn cứng hơn nhà họ Trương.
Đây chính là lý do ta chọn Quảng Nguyên.
Sự trả th/ù của nhà họ Trương càng tà/n nh/ẫn, thì trong mắt Tiền đông gia, ta càng có giá trị – bởi vì ta là quân bài ông dùng để khiến nhà họ Trương khó chịu.
Chỉ cần ta còn có thể ki/ếm tiền cho lương hành, ông ấy sẽ luôn bảo vệ ta.
Đây là dương mưu. Nhà họ Trương biết, Tiền đông gia biết, ta cũng biết. Nhưng biết thì đã sao? Ta có thể ki/ếm tiền, đây là sự thật không ai có thể phủ nhận.
Tiệm mì lớn nhất trong thành tên là "Lão Dư diện quán", mở được ba mươi năm rồi.
Chưởng quầy lão Dư hơn sáu mươi tuổi, làm mì cả đời, cái mũi còn nhạy hơn cả chó.
Trước đây nhà ông luôn nhập bột mì từ cửa hàng lương thực nhà họ Trương, sau khi nhà họ Trương gặp chuyện, lão Dư đang tìm thương nhân lương thực mới.
Ta mang hai cân bột trắng thượng hạng của Quảng Nguyên đến.
Lão Dư đang nhào bột trên thớt, bột dính đầy tay. Ông liếc nhìn ta: "Cô nương, con là người nhà nào?"
"Lương hành Quảng Nguyên. Nghe nói ông đang tìm bột mì, con mang mẫu đến, ông xem thử."
Lão Dư không nói gì, đổ bột trắng ra thớt, mân mê, ngửi ngửi.
Sau đó múc nước nhào thành một nắm bột nhỏ, ủ mười lăm phút, ngắt một miếng nhỏ kéo thành sợi mì, thả vào nước sôi.