Sợi mì vớt ra, trắng trong sáng bóng, từng sợi tách biệt rõ ràng. Ông nếm một miếng, không nói gì, lại nếm thêm miếng nữa rồi ngẩng đầu lên.
"Mì của lương hành các ngươi, ngon hơn nhà họ Trương."
"Nhà họ Trương dùng bông mạch loại ba Hà Nam, còn chúng ta dùng mạch xuân loại một Hà Bắc. Mạch xuân Hà Bắc thời gian sinh trưởng dài, độ đàn hồi của bột tốt, mì làm ra dai ngon không bị nát nước. Nếu ông dùng bột của chúng ta, mỗi bát mì b/án đắt hơn một văn cũng có người ăn."
Lão Dư bị ta chọc cười: "Cô nương nhỏ này, còn biết buôn b/án hơn cả ta."
Ta cười đáp: "Dư chưởng quầy, ông b/án một bát mì tám văn, ngày b/án hai mươi bát, một tháng là bốn nghìn tám trăm văn. Năm trăm cân bột, một cân làm được bốn bát, tổng cộng là hai nghìn bát. Mỗi bát mì ông tiết kiệm được một văn, một tháng là hai nghìn văn – ông còn thấy đắt sao?"
Lão Dư suy nghĩ một chút rồi gật đầu.
Tin tức truyền đến nhà họ Trương, Trương phu nhân đ/ập vỡ một bộ trà cụ quan diêu.
Nhưng sau khi đ/ập xong, bà lau tay, gọi quản gia tới.
"Đi tra xem. Con nhỏ Mạnh Vãn Đường kia ở Quảng Nguyên lương hành rốt cuộc là thân phận gì? Lương tháng bao nhiêu? Quản việc gì? Có qu/an h/ệ gì với Tiền Vạn Quán?"
Quản gia vâng lệnh rời đi. Ba ngày sau quay về bẩm báo: "Nó quản lý sổ sách ở lương hành, không lấy lương tháng, chỉ lấy hoa hồng. Tiền đông gia rất trọng dụng nó, nghe nói còn để nó tham gia vào việc quyết định nhập hàng."
Trương phu nhân im lặng một hồi: "Người này, không thể giữ lại."
Trương phu nhân nói là làm. Ba ngày sau, thành Vĩnh An bắt đầu lan truyền một tin đồn: Mạnh Vãn Đường có tư tình với Tiền đông gia của Quảng Nguyên lương hành.
Lời đồn thổi nghe như thật – "Thảo nào một con nhóc nhà quê lại có thể vào lương hành quản sổ sách, hóa ra là dựa vào cái này."
Khi lời đồn truyền đến tai ta, ta đang đối chiếu sổ sách ở lương hành.
Tạ Uẩn Văn đứng ở cửa, sắc mặt tái mét. "Đừng bận tâm," ta nói.
"Ta không bận tâm," chàng đáp, vành tai đỏ ửng, giọng trầm đục, "Ta đang nghĩ cách lôi kẻ tung tin đồn ra ngoài."
Ta ngẩng đầu nhìn chàng. Trong mắt chàng có lửa gi/ận, nhưng không phải nhắm vào ta, mà là nhắm vào những kẻ tung tin đồn kia.
"Không cần lôi ra," ta nói, "Cách tốt nhất để phá loại tin đồn này không phải là thanh minh, mà là để họ thấy số tiền ta ki/ếm được còn nhiều hơn họ tưởng. Tiền là thứ bịt miệng tốt nhất."
Chiều hôm đó, ta giành được hợp đồng cung ứng lương thực cho "Vọng Giang Lâu", tửu lâu lớn nhất thành Vĩnh An.
Ký xong hợp đồng, ta đứng trước cửa Vọng Giang Lâu, mỉm cười với những kẻ đang hóng chuyện trên phố:
"Các vị, ta có tư tình với Tiền đông gia hay không thì ta không biết. Nhưng ta biết, lợi nhuận tháng này của Quảng Nguyên lương hành đã tăng ba phần so với tháng trước. Ai có thể giúp lương hành ki/ếm thêm ba phần lợi nhuận, Tiền đông gia cũng sẵn lòng có "tư tình" với người đó."
Trong đám đông có người bật cười. Tin đồn là thứ truyền đi nhanh mà tan cũng nhanh, nhất là khi ngươi không coi nó ra gì.
Nhưng Trương phu nhân sẽ không cam tâm bỏ qua.
Rắc rối lớn hơn đã đến. Chiều hôm đó trời mưa, lương hành chỉ còn lại ta và Tạ Uẩn Văn.
Chàng tính xong khoản sổ sách cuối cùng, đóng sổ lại, ngẩng đầu lên thấy ta đang nhìn chàng, mặt lại đỏ ửng, cúi đầu lầm bầm điều gì đó.
Ta nghe không rõ, cũng không truy hỏi.
Có một buổi trưa, ta bận đến mức không kịp ăn cơm. Khi ta từ kho trở về, thấy trên bàn đặt một bát hoành thánh còn bốc hơi nóng.
Bên cạnh đ/è một mảnh giấy, chỉ viết hai chữ: "Ăn đi." Là nét chữ của chàng. Ta bưng bát, ngẩn người một lúc.
Lại có lần, ta thấy một lão ăn mày rá/ch rưới trước cửa lương hành, ngày lạnh giá co ro trong góc tường r/un r/ẩy.
Tạ Uẩn Văn bưng cho lão một bát cháo nóng, còn cởi chiếc áo bông cũ của mình khoác lên người lão.
Chiếc áo bông đó là do cô mẫu của chàng từng mũi kim sợi chỉ khâu nên, chàng cũng chỉ có duy nhất một bộ y phục để mặc qua mùa đông này.
Ta hỏi chàng: "Chàng không lạnh sao?" Chàng đáp: "Không lạnh." Nhưng môi chàng đã tím tái cả lại.
Những chuyện này không lớn, nhưng ta đều thu hết vào mắt.
Lại một buổi tối nọ, chàng đưa ta về nhà. Đi trên con đường lát đ/á xanh ở ngõ Liễu, ánh trăng sáng đến chói mắt, kéo dài bóng của hai người thành một dải dài.
Chàng đột nhiên dừng lại, há miệng mấy lần, cuối cùng nói: "Giày hôm nay của nàng bị ướt rồi."
Ta cúi đầu nhìn, đôi giày vải chân phải quả nhiên đã dẫm vào vũng nước. Chàng cúi đầu nói: "Về nhà... thay đôi khác đi."
Sáng ngày thứ ba – không phải ngày thứ hai, sau này ta mới biết chàng mất hai đêm mới làm xong – ta đẩy cửa sân, thấy trên bậc cửa đặt một đôi giày vải mới tinh.
Đế giày nghìn lớp, đường kim khâu khít khao, kích cỡ vừa vặn. Trong giày nhét một mảnh giấy: "Làm đêm qua, thử xem. Thực ra đã làm hai đêm, đêm đầu tiên khâu đế bị lệch."
Ta ngồi xổm xuống, ôm đôi giày vào lòng, vùi mặt vào đầu gối, hồi lâu không đứng dậy nổi.
Một nam nhân gánh hàng ở bến tàu, đêm khuya không ngủ để khâu giày cho ta. Mạnh Vãn Đường ta đời này, lần đầu tiên được người ta để tâm như thế.
Lại một đêm nọ, ánh trăng rất đẹp. Chàng đưa ta về nhà, đi đến giữa ngõ Liễu, bỗng dừng bước.
Chàng đứng rất lâu, lâu đến mức ta tưởng chàng sắp hóa thành một cái cây. Cuối cùng chàng hít sâu một hơi, nói: "Mạnh Vãn Đường."
"Ừm?"
"...Ta muốn cưới nàng."
Không hoa, không sính lễ, không một lời tâm tình thừa thãi.