“Nàng phải quay về……”

“Trẫm đã nói là đón muội về nhà rồi mà……”

Ta phiêu lãng phía trên Tông Nhân Phủ, nghe những âm thanh đó. Cuối cùng người cũng không còn đang tính toán nước cờ nữa. Cuối cùng người cũng không còn nghĩ xem “bước nào đã lộ” nữa.

Người đang sợ.

Sợ cái gì?

Sợ ta không trở về.

Không phải sợ chứng cứ.

Không phải sợ lòng dân.

Không phải sợ mất ngai vàng.

Mà là sợ ta đi rồi, người sẽ chẳng thể lừa dối chính mình được nữa.

Chỉ cần ta còn được ch/ôn cất trong hoàng lăng.

Chỉ cần ta còn mang danh hiệu “Đại Dận Chiêu Ninh Trưởng công chúa”.

Người vẫn có thể tự nhủ với bản thân rằng: Ta không hề đá/nh mất muội ấy.

Người có thể đến hoàng lăng tế ta.

Có thể đứng trước bài vị của ta mà nói: Hoàng huynh đến thăm muội đây.

Có thể tiếp tục lắc chiếc chuông đó.

Tiếp tục diễn vở kịch huynh muội tình thâm.

Nhưng ta đi rồi.

Người chẳng còn lại gì cả.

Ngay cả kịch cũng không còn để mà diễn.

Hoàng huynh.

Người nói đến đón ta về nhà.

Nhưng người còn chẳng biết nhà là gì.

Nhà không phải hoàng lăng.

Nhà không phải tông miếu.

Nhà không phải một tấm bia đ/á khắc thụy hiệu.

Nhà là nơi có người đợi người quay về.

Ta đợi người mười bốn năm.

Bây giờ đến lượt người đợi.

Đợi một người vĩnh viễn không bao giờ quay lại.

Sáng sớm ngày thứ tư.

Người của Hô Diên Triệt nâng qu/an t/ài lên.

Hắn đã sắp xếp lại đồ đạc bên trong.

Giá y phủ trên thi cốt.

Mặt trong hướng vào trong.

Dòng chữ đó áp sát vào xươ/ng sườn ta.

Chuông vàng đặt lại trong lòng bàn tay phải.

Không phải chiếc trong thư phòng Tiêu Thừa Hành.

Mà là chiếc ta nắm ch/ặt khi ch*t trong tuyết.

Chiếc đã bị m/áu làm cho rỉ sét.

Bùa bình an vẫn nằm trên ngựk.

Bốn chữ “Tuế tuế bình an” đã bị m/áu nâu sẫm thấm đẫm, chẳng còn nhìn rõ nữa.

Huyết thư được lấy riêng ra, đặt trong hộp gỗ sơn mài, do Vệ đại nhân tự tay niêm phong vào kho vật chứng của Đại lý tự.

Đó là chứng cứ.

Chứng cứ không đi theo người ch*t.

Chứng cứ ở lại trong thế giới của người sống.

Thẻ bài Đông Cung, danh sách xuất kinh, phê lệnh “không để lại người sống”, tất cả đều ở lại Hình bộ.

Ba thứ.

Ba ổ khóa.

Ba chiếc chìa khóa cất giữ ở ba nơi.

Thứ cần giữ đã giữ.

Thứ cần đi, có thể đi rồi.

Khi qu/an t/ài được khiêng ra khỏi quảng trường Thái Cực Điện, là giờ Mão.

Trời vẫn chưa sáng hẳn.

Bầu trời xám xanh đ/è xuống rất thấp.

Bên ngoài cổng cung, một hàng người đang quỳ.

Không phải bá quan.

Là bách tính.

Người phụ nữ khóc suốt ba ngày kia vẫn ở đó.

Bà ta quỳ bên vệ đường, tay nắm ch/ặt một nhành hoa trắng.

Chẳng biết bẻ từ đâu.

Khi qu/an t/ài đi ngang qua, bà ta đặt nhành hoa xuống đất.

Không khóc.

Không gào.

Chỉ lặng lẽ đặt hoa xuống.

Những người phía sau cũng đặt hoa xuống.

Hoa trắng.

Hoa vàng.

Có hoa lụa.

Có hoa dại.

Có hoa bằng giấy.

Trải dài từ cổng cung ra tận ngoài cổng thành.

Hô Diên Triệt cưỡi ngựa đi trước qu/an t/ài.

Tám trăm thân vệ chia làm hai bên.

Không cầm cờ.

Không tấu nhạc.

Đây không phải lễ Đế nữ.

Không có sáu mươi bốn người khiêng qu/an t/ài.

Không có kim sách ngọc bảo.

Không có nghi trượng quỳ lạy.

Chỉ có một cỗ qu/an t/ài.

Một đội quân.

Một con đường về hướng bắc.

Đi đường quan đạo phía bắc.

Bạch Thạch Dịch.

Thiết Tỏa Quan.

Nhạn Hồi Lĩnh.

Cùng một con đường lúc ta xuất giá.

Đi suốt ba ngày.

Chiều tối ngày thứ ba, bóng núi phía xa hiện ra.

Màu xám trắng.

Trên sống núi vẫn còn tuyết đọng.

Cuối tháng ba rồi, nơi khác đã tan sạch.

Nhưng Nhạn Hồi Lĩnh cao, gió lớn, tuyết tan chậm.

Ngày ta ch*t cũng là cảnh trời như thế này.

Xám.

Lạnh.

Gió từ miệng núi lùa vào, c/ắt da c/ắt th!t như d/ao.

Ngày đó giá y bị gió thổi phồng lên, các cung nữ liều mạng giữ rèm kiệu.

Xuân Hạnh co ro trong góc run cầm cập.

Ta nhét lò sưởi tay cho nàng.

Rồi mũi tên tới.

Tên ba cạnh.

B/ắn xuống từ sườn núi bên trái.

Mũi tên thứ nhất xuyên qua vách kiệu.

Mũi tên thứ hai trúng vai Triệu m/a m/a.

Mũi tên thứ ba trúng sườn trái ta.

Khi ta lăn ra khỏi kiệu, nhìn thấy người nằm khắp đất.

Xuân Hạnh nằm sấp trên đất.

Trên áo bông có một cái lỗ.

M/áu nhuộm đen cả vải xanh.

Triệu m/a m/a đổ xuống cạnh bánh xe.

Tay vẫn vươn ra, như muốn kéo ta.

Người phu xe nhỏ A Điền đổ xuống dưới càng xe.

Mười lăm tuổi.

Khuôn mặt còn chưa kịp trưởng thành.

Ta quỳ trong tuyết, liều mạng lắc chuông.

Lắc rất lâu.

Lâu đến mức đầu ngón tay đông cứng lại.

Rồi ám vệ tới.

Nhạn Hồi Lĩnh.

Hô Diên Triệt chọn một sườn núi hướng dương.

Không phải vị trí ta ch*t.

Là phía bên kia sườn núi.

Hướng nam.

Khi xuân tới có thể đón nắng.

Người hắn mang theo bắt đầu đào đất.

Đất đông lạnh rất cứng.

Cuốc đ/ập xuống, lửa xẹt tứ tung.

Họ đào suốt cả ngày.

Khi đêm xuống, hố đã đào xong.

Trước khi hạ quan, Hô Diên Triệt làm một việc.

Hắn lấy từ trong túi yên ngựa ra một thứ.

Một tấm vải đen.

Gấp rất ngay ngắn.

Hắn trải tấm vải đó ra, Iót vào mặt trong nắp qu/an t/ài.

Trên vải không thêu gì cả.

Không có lấy một chữ.

“Dùng để chắn tuyết.”

Hắn nói.

Giọng rất khẽ.

“Nhạn Hồi Lĩnh gió lớn, khe qu/an t/ài sẽ thấm nước tuyết.”

“Tấm vải này dày, có thể chắn được mấy năm.”

Hắn nói rất thản nhiên.

Giống như đang nói một việc rất bình thường.

Nhưng ta thấy khi hắn trải tấm vải đó, ngón tay hắn khựng lại.

Chỉ một cái thôi.

Rồi hắn đậy nắp qu/an t/ài lại.

Đóng đinh qu/an t/ài.

Tổng cộng bảy chiếc đinh.

Quy tắc của Bắc Địch.

Bảy chiếc đinh sắt.

Bảy tiếng búa gõ.

Tiếng nào cũng rất nặng nề.

Rơi vào đất lạnh và màn đêm, như tiếng tim đ/ập.

Chiếc đinh cuối cùng vừa đóng xong, nắp qu/an t/ài đã đóng ch/ặt hoàn toàn.

Hạ táng.

Qu/an t/ài được dây thừng từ từ hạ xuống hố.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm