Đầu ngón tay lướt qua lớp lụa của bộ lễ phục, lạnh lẽo như vảy của một loài bò sát. Lướt qua lớp vải len của bộ âu phục, hơi nhám tay, mang theo vẻ đứng dáng đặc trưng của loại vải cao cấp. Lướt qua lớp da cũ của chiếc áo khoác da, ấm áp và mềm mại, thứ đã được cô mặc suốt sáu năm đến mức bóng loáng. Lướt qua chất liệu cotton của chiếc áo blouse, vết i-ốt ở cổ tay áo sờ vào hơi cứng. Cuối cùng, tay cô dừng lại trên bề mặt satin của chiếc áo choàng quyền anh, đầu ngón tay chậm rãi vẽ lại từng nét của chữ “Q” màu bạc.
Cô lấy chiếc áo choàng quyền anh xuống, gấp gọn rồi bỏ vào túi hành lý.
Sau đó, cô lấy ra một chiếc áo khoác gió màu đen.
Kiểu dáng kinh điển của Burberry, hai hàng khuy, có đai lưng, gấu áo dài đến mắt cá. Chiếc áo này là do chính cô m/ua vào ngày sinh nhật năm hai mươi ba tuổi. Lúc quẹt thẻ, nhân viên b/án hàng liếc nhìn chữ ký trên mặt thẻ – “Shen Qinghuan” – rồi ngẩng đầu nhìn cô, trong mắt thoáng hiện vẻ bối rối, chắc là đang tự hỏi tại sao cái tên này lại phát âm giống chữ “Q” của Queen Capital đến thế.
Thẩm Thanh Hoan khoác áo gió lên, thắt đai lưng. Cô đứng trước gương búi tóc thành một búi lỏng, cố định bằng một chiếc trâm cài màu đen. Chiếc trâm là di vật của mẹ, đầu trâm bằng bạc khắc một đóa hoa hải đường, cùng loại với cây hải đường trong tấm ảnh kia.
Trong gương phản chiếu hình ảnh một người phụ nữ.
Chiếc áo gió màu đen khoác ngoài chiếc áo ngủ lụa tơ tằm màu đen, cổ áo để lộ một đoạn xươ/ng quai xanh và nốt ruồi đỏ nhỏ. Gương mặt không trang điểm, những dấu vết do nước mưa để lại đã khô, làn da mang vẻ trắng lạnh. Đôi môi màu hồng nhạt tự nhiên, không thoa bất cứ thứ gì, khuôn môi tinh tế mà lạnh lùng. Xươ/ng mày cao và thanh tú, sống mũi thẳng tắp, đường xươ/ng hàm sắc sảo.
Điều ch*t người nhất chính là đôi mắt kia.
Đen như đêm đông giá rét, không thấy đáy. Nhưng nếu nhìn kỹ, bạn sẽ phát hiện ra ở nơi sâu thẳm nhất, có một đốm đỏ cực kỳ tối – như tàn lửa chưa tắt hẳn dưới lớp tro tàn.
Thẩm Thanh Hoan nhìn chính mình trong gương, chợt nhớ đến câu nói cuối cùng mẹ nói với cô trước khi qu/a đ/ời.
Đó là ngày thứ ba mẹ nằm trong phòng chăm sóc giảm nhẹ. Hoa hải đường ngoài cửa sổ nở rộ, cánh hoa bị gió thổi bay vào, rơi trên chăn của mẹ. Mẹ đã g/ầy đến mức biến dạng, mu bàn tay đầy vết kim tiêm, nhưng đôi mắt vẫn sáng ngời.
Bà nắm lấy tay Thẩm Thanh Hoan, nói: “Hoan Hoan, mẹ sắp đi rồi.”
Thẩm Thanh Hoan nói: “Không đi.”
Mẹ cười, nụ cười bị b/ệnh tật hànhz hạz đến mức chỉ còn lại một đường nét nhạt nhòa, nhưng vẫn vô cùng dịu dàng: “Đồ ngốc. Trước khi mẹ đi, mẹ nói với con một câu.”
“Câu gì ạ?”
“Trong lòng bàn tay con có hai vết s/ẹo. Mẹ nhìn mười năm rồi, vẫn chưa hỏi con – chúng từ đâu mà có?”
Thẩm Thanh Hoan im lặng.
Mẹ không truy hỏi. Bà dùng ngón cái nhẹ nhàng mơn trớn hai vết s/ẹo ấy, từng chút một, như đang vuốt ve gương mặt của một đứa trẻ sơ sinh.
“Con không nói, mẹ cũng biết.” Giọng bà ngày càng nhỏ, như những cánh hoa trong gió, “Đó là vết s/ẹo để lại khi c/ứu người. Hoan Hoan của mẹ, từ nhỏ đã biết c/ứu người rồi.”
Đêm đó, mẹ đi rồi.
Thẩm Thanh Hoan ngồi trong phòng b/ệnh suốt một đêm. Ngoài cửa sổ trời bắt đầu mưa, những cánh hoa hải đường bị nước mưa quật ngã, trải đầy một mặt đất màu hồng trắng.
Cô không khóc.
Cô đặt tay mẹ vào trong chăn, nhặt cánh hoa hải đường rơi trên chăn kẹp vào cuốn “Hoàng tử bé”. Sau đó bước ra khỏi phòng b/ệnh, thực hiện cuộc gọi đầu tiên đến Thụy Sĩ.
Năm đó cô mười sáu tuổi.
Mười năm sau, cô hai mươi sáu tuổi.
Lúc này, đứng trước gương trong phòng thay đồ, cô nói một câu với chính mình trong gương. Giọng rất nhẹ, nhẹ đến mức chỉ mình cô có thể nghe thấy:
“Mẹ, tối nay con đi đòi n/ợ.”
Một giờ sáng.
Trước cửa Vân Đỉnh Cung Khuyết.
Cơn mưa đã nhỏ dần, chuyển thành những hạt mưa bụi li ti, dệt thành một lớp màn mỏng màu bạc xám dưới ánh đèn đường. Mưa đêm ở Đế Đô có một mùi vị đặc biệt – mùi tanh nhẹ bốc lên từ mặt đường nhựa bị nước mưa ngâm, trộn lẫn với hương thơm thanh đắng của lá bạch quả rơi rụng bên đường, và cả mùi hương cỏ nước phảng phất bay đến từ phía xa xa của Thập Sát Hải.
Chu Đức Toàn đã đứng gần ba tiếng đồng hồ, hai chân run lên bần bật như bị sàng gạo.
Vết thương trên mặt ông ta bị nước mưa làm trắng bệch, lớp th!t ở mép vết thương lật ra, không còn chảy m/áu nữa nhưng để lại một vết rá/ch dài gần ba centimet, trông như một con rết đỏ vặn vẹo đang bò trên gò má ông ta. Miếng băng cá nhân đã rơi mất từ lâu, không biết bị nước mưa cuốn vào cống thoát nước nào rồi. Đôi môi tím tái vì lạnh, hàm răng trên dưới va vào nhau không tự chủ, phát ra tiếng kêu cọc cạch.
Ông ta muốn đi.
Ông ta thực sự rất muốn đi.
Điện thoại của ông ta đã bị nước mưa làm hỏng – nửa tiếng trước còn bật được nguồn, giờ màn hình đã đen ngòm, ấn nút nguồn cũng không có phản ứng gì. Xe của ông ta đỗ dưới hầm để xe, một chiếc Audi A6 màu đen mà nhà họ Thẩm cấp, trong xe có một chiếc áo khoác gió dự phòng, một gói băng cá nhân chưa bóc, và một bình trà Long Tỉnh. Từ đây xuống hầm để xe, đi lối nhân viên, chỉ mất ba phút.
Nhưng ông ta không dám.