Thắt lưng tôi đột ngột bị vật gì đó lạnh lẽo dí vào, quay đầu lại thì thấy Tiểu Chu đang cầm một ống tiêm rỗng, đầu kim đọng lại dòng m/áu đen: “Y tá Trần, cô quên rồi sao? Lúc tôi ch*t, cô rút của tôi ba ống m/áu mà vẫn không tìm thấy mạch đâu.”
Da mặt cô ấy bắt đầu tan chảy, lộ ra bộ khung bằng giấy bên dưới lớp da. Tôi đưa tay tìm gói chu sa trong túi, nhưng chợt nhớ ra nó đã rơi cạnh xe đẩy dụng cụ khi cấp c/ứu lúc rạng sáng.
Trấn H/ồn Ấn sau gáy ngày càng nóng rực, trong cơn mê sảng, tôi nhìn thấy cảnh tượng năm bảy tuổi, cha ôm tôi đứng trước gương đồng, trong gương phản chiếu một người đàn ông đeo mặt nạ đồng, áo bào đỏ của hắn đang từng chút một thấm vào da th!t tôi.
“Bùm —”
Tấm áo đạo bào vải xanh đột ngột rơi xuống từ trần nhà. Tôi nhận ra đó là kiểu dáng ông nội thường mặc, vạt áo vẫn còn giữ lại vết bùa bình an mà tôi đã khâu ba năm trước.
Bóng dáng q/uỷ sai tan biến ngay khoảnh khắc tấm vải chạm đất, Tiểu Chu “bịch” một tiếng ngã xuống, trở lại bộ dạng trước khi hôn mê.
Tại nơi hôn thư bị đạo bào đ/è lên, hiện ra nửa dòng chữ nhỏ: Thế thân Q/uỷ Vương, mười năm thay một lần, cần m/áu huyết người thân để tế h/ồn.
Tiếng còi cảnh sát vang lên từ xa. Tôi giũ tấm đạo bào ra, một tờ giấy vàng nhăn nhúm rơi từ trong túi áo, đó là mẩu giấy cha để lại trước khi mất tích, mặt sau vẽ bằng chu sa dấu ấn đồng giống hệt trên hôn thư.
Nét chữ bị nước mưa làm nhòe đi, nhưng vẫn có thể nhìn rõ câu cuối cùng: “A Viện, đừng tin lời ông nội nói rằng “mẹ con khó sinh mà ch*t”, bà ấy bị q/uỷ sai của Cửu U Điện…”
Viền tờ giấy ch/áy đen, nửa câu sau đã bị th/iêu rụi sạch sẽ.
Tôi nghe thấy tiếng chuông kiệu giấy truyền đến từ phía thang máy, bảy chiếc kiệu hoa đang lắc lư tiến lại từ cuối hành lang. Lần này rèm kiệu đều được vén lên, bên trong ngồi bảy con người giấy, sau gáy mỗi con đều dán một tờ giấy ghi tên khác nhau: Trần Viện, Chu Tiểu Manh, thầy Lý và cả người cha đã mất tích mười năm trước.
Trong chiếc kiệu hoa ở giữa nhất, khăn trùm đầu màu đỏ tự động lay động dù không có gió. Tôi thấy trên chiếc cằm lộ ra dưới khăn trùm có một nốt ruồi son — vị trí không sai một ly so với nốt ruồi tôi từng thấy khi mẹ trang điểm.
Nón lá của lũ q/uỷ sai đột ngột quay về phía tôi, trên lá cờ dẫn h/ồn chúng nâng cao, cột tên chú rể vốn đang để trống, lúc này đang chậm rãi hiện lên ba chữ nhỏ: Trần Kiến Quốc. Đó là tên của cha tôi.
“A Viện…”
Tiếng gọi mơ hồ vọng ra từ trong kiệu hoa. M/áu toàn thân tôi như đông cứng lại, âm thanh này tôi đã chờ đợi suốt mười năm, nhưng lại vang lên từ dưới lớp khăn đỏ trong chiếc kiệu q/uỷ vào rạng sáng ngày Rằm tháng Bảy.
Lần cuối cùng cha ôm tôi trước khi mất tích cũng dùng giọng điệu này, mang theo hơi ẩm của đêm mưa và mùi tro hương trong đạo quán.
Mảnh xươ/ng trong túi đạo bào đột nhiên nóng rực. Tôi lấy nửa mảnh xươ/ng của mẹ ra, phát hiện dấu ấn đồng trên hôn thư khớp hoàn toàn với viền mảnh xươ/ng — hóa ra đây là hai nửa chìa khóa có thể mở cánh cổng Cửu U Điện.
Còn sau gáy tôi, lúc này đang chuyển hóa Trấn H/ồn Ấn thành hình dạng dấu ấn đồng hoàn chỉnh bằng cách rỉ m/áu.
“Âm sinh nữ, khế ước đã thành.” Q/uỷ sai đi đầu vén nón lá, lộ ra khuôn mặt của ông Vương, người b/ệnh đã cấp c/ứu thất bại ba năm trước, trên yết hầu ông ta cắm nửa đoạn kim truyền dịch, “Ông nội cô dùng bát tự sinh thần của cô để đổi lấy nửa hơi thở của mẹ cô, nhưng h/ồn phách bà ấy sớm đã bị Q/uỷ Vương giam giữ tại Cửu U Điện. Cha cô vì c/ứu bà ấy nên đã tự nguyện làm thế thân cho Q/uỷ Vương suốt mười năm.”
Tôi nhớ lại vết m/áu trong kẽ móng tay ông nội trước khi lâm chung, cuối cùng cũng hiểu “mẹ con để lại linh h/ồn ở cửa Q/uỷ” nghĩa là gì.
Đêm mưa bão hai mươi năm trước, khi mẹ khó sinh, ông nội đã dùng mạng của tôi để đổi lấy nửa hơi thở của bà, nhưng lại bị Q/uỷ Vương nhân cơ hội lập khế ước minh hôn; mười năm trước cha phát hiện ra sự thật, lấy tr/ộm nửa mảnh xươ/ng của ông nội đi c/ứu mẹ nhưng bị ép trở thành thế thân Q/uỷ Vương, cứ mỗi mười năm lại phải dùng m/áu huyết người thân để duy trì h/ồn phách.
Còn bây giờ, kỳ hạn mười năm đã đến, họ muốn lấy tôi đi đổi mạng cho cha, hoặc là bắt tôi trở thành vật tế mới.
Thang máy vang lên tiếng “ting”. Lần này bên trong không có đèn khẩn cấp, trong buồng thang tối om lơ lửng bảy ngọn đèn dẫn h/ồn, tim đèn màu m/áu phản chiếu những dòng chữ được khắc bằng móng tay trên vách thang: “A Viện đừng sợ, cha đợi con ở Cửu U Điện.” Nét chữ tươi mới đến mức có thể thấy những giọt m/áu đang chảy xuống, chính là bút tích của cha.
Tiểu Chu đang rên rỉ dưới đất. Tôi nhìn chằm chằm vào hôn thư trong tay q/uỷ sai, phát hiện ba chữ “Trần Kiến Quốc” ở cột tên chú rể đang hút m/áu của tôi, còn bên cạnh bát tự sinh thần của tôi, không biết từ lúc nào đã xuất hiện thêm một dòng chữ nhỏ: Rằm tháng Bảy giờ Tý, lấy m/áu làm ấn, tân nương về chỗ.
Tiếng sấm sét ngoài cửa sổ đột ngột n/ổ tung. Tôi nhìn thấy trong gương phòng trực, sau gáy mình đã hoàn toàn biến thành hình dáng dấu ấn đồng, còn phía sau tôi, bảy chiếc kiệu hoa đang chậm rãi tiến lại gần.
“Mẹ” dưới khăn trùm đầu đưa tay ra, trên đầu ngón tay đeo chiếc vòng bạc cha tặng bà, mặt trong của vòng khắc nhũ danh của tôi: A Viện.
“Giờ Tý đến rồi.” Q/uỷ sai ông Vương nhếch mép cười, giữa hàm răng giấy rơi ra nửa mảnh giấy bùa ch/áy sém, chính là vết bùa bình an mà ông nội chưa đ/ốt hết ba năm trước, “Đã đến lúc đóng dấu ấn cuối cùng rồi — Trấn H/ồn Ấn sau gáy cô, vốn dĩ chính là sính lễ mà Q/uỷ Vương tặng cô đấy.”
Tôi sờ vào mảnh xươ/ng trong túi đạo bào, đột nhiên nhớ đến nửa câu còn lại trên mẩu giấy của cha: “Đừng tin lời ông nội con nói…”
Hóa ra năm đó ông nội không phải đang c/ứu tôi, mà là đang giúp Q/uỷ Vương khắc lên dấu ấn khế ước.