Ngày nào cũng vậy, trời chưa sáng đã dậy, chẻ củi, nhóm lửa, giặt giũ, quét sân, cho heo ăn, bận rộn đến tận đêm khuya.
Họ khen bà tháo vát.
Nhưng trong mắt họ, ý nghĩa là: dễ sai bảo.
Bà cứ ngỡ đời mình có thể cứ thế mà trôi qua.
Sau đó, mẹ chồng tìm đến.
Chặn bà lại ở bờ sông, mấy người đ/è bà xuống, trói lại, nhét vào trong thuyền, b/án cho Hạ Lão Lục.
Bà đ/âm đầu vào bờ sông——nhưng không ch*t.
Lúc tỉnh lại, đã ở trong nhà Hạ Lão Lục rồi.
Hạ Lão Lục là người thật thà, hơn ba mươi tuổi, vẫn đ/ộc thân, dành dụm tiền để cưới vợ.
Thấy bà như vậy, đứng trước cửa hồi lâu, rồi nói: Nếu cô thực sự không muốn, tôi sẽ đưa cô đi.
Bà còn có thể đi đâu nữa?
Đành cam chịu.
Những năm sau đó, ngược lại sống cũng tạm ổn.
Hạ Lão Lục không chê bà từng có chồng, bà sinh cho ông một đứa con trai, đặt tên là A Mao.
Cuộc sống tuy nghèo khó, nhưng A Mao biết cười, biết gọi mẹ, bà cảm thấy đời này đã có chút hy vọng.
Thế nhưng khi cưới bà, Hạ Lão Lục đã v/ay nặng lãi.
Lãi mẹ đẻ lãi con, trả mãi không hết.
Ông làm việc b/án mạng, kiệt quệ cả thân thể.
Ngày chủ n/ợ đến đòi n/ợ, bà để A Mao ngồi trước cửa bóc đậu, còn mình ra ứng phó.
Đến khi nghe tiếng động lạ chạy ra——
Trước cửa chỉ còn lại một chiếc giày.
Một vũng m/áu.
A Mao bị sói tha đi mất.
Hạ Lão Lục vì quá đ/au lòng mà kiệt sức, chẳng mấy ngày sau cũng trút hơi thở cuối cùng.
Bà lại trở thành người cô đ/ộc.
Không nơi nương tựa, chỉ có thể quay về Lỗ Trấn.
Bà chủ thấy bà như vậy, miệng thì nói thương hại, nhưng mắt đã chẳng thèm nhìn bà nữa.
Ông chủ còn thẳng thừng hơn: Loại người này, đừng đụng vào đồ cúng tế. Bồ T/át không nhận đâu.
Bà hỏi tại sao.
Không ai nói. Nhưng tất cả mọi người đều biết: bà mệnh cứng, khắc chồng khắc con, không sạch sẽ.
Sau đó có người chỉ cho bà một con đường: Đến miếu Thổ Địa quyên một cái ngưỡng cửa, để nghìn người giẫm, vạn người bước qua, thì có thể chuộc tội, có thể gột rửa những thứ không sạch sẽ đó.
Bà liền dành dụm tiền.
Suốt một năm trời, chắt bóp chi tiêu, từng đồng từng đồng tích góp, cuối cùng gom đủ mười xâu tiền.
Ngày giao cho người giữ miếu, người đó cười bảo: Được rồi, lần này sắp gặp vận may rồi.
Bà tin.
Ngày Đông Chí, nhà họ Lỗ làm lễ cúng tế.
Bà bưng đồ cúng định vào giúp——
Bà chủ hét lên một tiếng chặn bà lại: “Cô đụng vào cái gì! Cô có quyên một trăm xâu tiền cũng vô ích, tội nghiệt của cô cả đời này không gột sạch được!”
Bà đứng đó, tay vẫn còn bưng cái đĩa.
Cái đĩa vỡ tan.
Bà chạy đến trước cửa miếu Thổ Địa, từng nhát từng nhát ch/ém vào cái ngưỡng cửa mà mình đã quyên.
Ch/ém đến tận trời tối, ch/ém đến tay chảy m/áu.
Bà muốn ch/ém đ/ứt những nh/ục nh/ã ấy.
Sau đó trong trấn có thêm một người đàn bà đi/ên.
Tóc bạc trắng, ánh mắt đờ đẫn, gặp ai cũng nói chuyện, nói về A Mao nhà bà, nói về ngưỡng cửa của bà, nói về cuộc đời bà.
【3】
Cuối cùng bà cũng hiểu ra——mạng người nghèo, chẳng qua chỉ là thứ Iót chân cho hương khói của người ch*t mà thôi.
Mùa đông năm cuối cùng ấy, bà gục ngã trong tuyết.
Không ai thu x/ác.
Những điều này đều do tiên sinh Chu Thụ Nhân viết.
Năm xưa đọc, thầy giáo nói, đừng làm Tường Lâm tẩu, gặp ai cũng kể khổ, người nghe nhiều sẽ thấy phiền.
Nhưng thầy không nói bà ấy khổ đến nhường nào.
Tôi ở trên núi vài năm,
Nhìn xuống nhân gian, dần dần mới hiểu ra——nỗi khổ của bà, không phải vì bà nói nhiều.
Mà là cái thời đại ấy, vốn dĩ không hề chừa cho bà một đường sống.
Gió mùa xuân thổi qua từ phía bờ sông.
Tôi đứng trong bóng tối, nhìn bà ngồi xổm ở đó.
Bà không biết điều gì đang chờ đợi mình phía trước.
Tôi há miệng.
Nhưng chẳng nói được gì.
Bà bỗng ngẩng đầu lên, nhìn về phía tôi một cái.
Tôi theo phản xạ lùi vào sau gốc cây.
Bà không nhìn thấy tôi.
Cúi đầu xuống, tiếp tục nhìn chằm chằm mặt nước.
Tôi đứng đó thêm một lúc.
Gió thổi qua mặt sông, thổi qua mái tóc bà, thổi qua sợi dây trắng trên đỉnh đầu bà——đồ tang cho chồng bà.
Tôi nhớ đến lời lão cáo từng nói: Yêu tinh không được nhúng tay vào chuyện nhân gian, đó là quy tắc.
C/ứu được nhất thời, không đổi được một đời.
Làm không khéo, còn rước lấy tai họa lớn hơn cho bà ấy.
Nhưng tôi nhớ đến những vết d/ao trên ngưỡng cửa.
Nhớ đến cái x/ác không người thu nhận trong tuyết.
Nhớ đến câu nói ấy——
“Một người sau khi ch*t đi rốt cuộc có linh h/ồn hay không?”
Tôi bước một bước về phía trước.
Con thỏ bỗng túm lấy tôi từ phía sau: “Đại ca, ngài định làm gì thế?”
Tôi quay đầu lại.
Con thỏ mắt trợn tròn xoe, lạc trong miệng cũng quên nhai: “Ngài không phải là muốn… cái đó chứ…”
Tôi im lặng một lát.
“Không có.” Tôi nói, “Ta chỉ xem thử thôi.”
Tôi không để ý đến nó, tiếp tục nhìn người phụ nữ bên bờ sông.
Bà đứng dậy, đứng đó ngẩn người hồi lâu.
Cứ đứng như thế, không động đậy, cũng chẳng nhìn gì, chỉ ngẩn người.
Kiểu ngẩn người đó tôi từng thấy.
Kiểu mệt mỏi tận xươ/ng tủy, không biết ngày mai ở đâu.
Tôi quay người bước về.
Con thỏ đuổi theo: “Đại ca, ngài muốn quản chuyện của bà ấy?”
“Quản.” Tôi nói, “Nhưng không thể quản ở đây.”
Tôi phải đến đó trước người hầu kia.
Tôi thay một bộ đồ.
Chính x/ác hơn là, biến ra một bộ đồ.
Chất liệu gấm thêu hoa, viền vai đính kết, tay đeo mấy chiếc nhẫn vàng——mô phỏng theo hình dáng các bà mệnh phụ phu nhân trên tranh vẽ, biến xong soi vào chum nước, đến chính mình cũng suýt không nhận ra.
Con thỏ cũng đổi sang bộ đồ ngắn, dắt theo xe lừa, trên xe chở vài xấp vải, trông như người theo hầu của một gia đình tử tế.
Chúng tôi đợi trên đường quan.
Quả nhiên, chẳng bao lâu sau, phía xa có một người đi tới.
Cúi đầu, khoác tay nải, đi không nhanh, nhưng từng bước một rất vững.
Tôi ra hiệu cho con thỏ đá/nh xe lừa tới.