Tôi tên là Thẩm Đường Khê, năm nay bốn mươi ba tuổi, đang làm lao công tại một công ty giúp việc ở tỉnh lỵ với mức lương hai nghìn tám trăm tệ mỗi tháng. Tôi chưa kết hôn, không con cái, một mình thuê căn phòng trọ rộng chưa đầy hai mươi mét vuông trong một khu nhà ở vùng ngoại ô. Cuộc sống của tôi rất đơn giản: mỗi sáng sáu giờ ra khỏi nhà, tối bảy tám giờ mới về, cuối tuần thỉnh thoảng tăng ca. Mười sáu năm qua, trong đời tôi chỉ có hai việc – đi làm, và chăm sóc một bà lão neo đơn không cùng huyết thống.
Bà lão đó tên là Chu, tên đầy đủ là Chu Tú Lan, năm nay tám mươi bảy tuổi. Chồng bà mất sớm, người con trai duy nhất cũng qu/a đ/ời trong một vụ t/ai n/ạn giao thông ba mươi năm trước. Kể từ đó, bà sống một mình trong căn tập thể cũ kỹ ở phía đông thành phố. Bà không phải họ hàng, không phải hàng xóm, thậm chí chẳng phải đối tượng dịch vụ được giới thiệu qua bất kỳ kênh chính thức nào. Duyên phận giữa chúng tôi bắt đầu vào một buổi chiều hết sức bình thường cách đây mười sáu năm.
Tôi vẫn nhớ như in ngày hôm đó. Ngày 17 tháng 3 năm 2010, tức mùng 2 tháng 2 âm lịch, ngày Rồng ngẩng đầu. Bốn giờ rưỡi chiều, tôi tan làm ở một quán ăn nhỏ, đi bộ dọc theo ngõ Ngô Đồng ở phía đông thành phố để về nhà. Tháng Ba ở tỉnh lỵ vẫn còn vương cái lạnh se sắt của mùa xuân, những cây ngô đồng vừa nhú ra những chồi non nhỏ bằng hạt gạo, cành cây màu nâu xám đan xen thành một tấm lưới dày đặc trên nền trời xanh nhạt. Tôi mặc chiếc áo khoác đồng phục màu xanh tím than đã giặt đến bạc màu, trong túi đựng nửa tháng lương vừa nhận được – tám trăm sáu mươi tệ, trong đó sáu trăm phải gửi về quê cho mẹ chữa b/ệnh, số còn lại là toàn bộ chi phí sinh hoạt của tôi trong nửa tháng tới.
Khi đi đến đoạn giữa ngõ, tôi nhìn thấy bà Chu. Bà ngồi xổm cạnh rãnh thoát nước, một tay chống tường, tay kia ôm ngựk. Hôm đó bà mặc chiếc áo bông màu đỏ sẫm, cổ áo đã sờn rá/ch cả bông, mái tóc hoa râm búi lỏng lẻo sau gáy, vài sợi tóc mai bị gió thổi dính vào má. Sắc mặt bà trắng bệch như tờ giấy, trán lấm tấm mồ hôi, đôi môi hơi tím tái, cả người co quắp lại ở đó, giống như một con chim sẻ già bị mưa ướt cánh.
Tôi rảo bước tới, ngồi xổm xuống, khẽ hỏi: "Bà ơi, bà bị sao vậy ạ? Có cần cháu đỡ bà dậy không?"
Bà ngước mắt nhìn tôi, đôi mắt vẩn đục nhưng vẫn ánh lên vẻ thanh tỉnh, mí mắt trĩu xuống, nếp nhăn nơi khóe mắt như những vết nứt trên lòng sông khô cạn. Đôi môi bà r/un r/ẩy vài cái, giọng nói nhỏ và khàn đặc: "Cô gái à... bà bị chóng mặt... không đứng dậy nổi nữa rồi..."
Tôi đỡ lấy cánh tay bà đặt lên vai mình, từ từ dìu bà đứng dậy. Toàn thân bà run lên bần bật, những khúc xươ/ng trên người bà khiến vai tôi đ/au nhói. Tôi dìu bà đi được vài bước, bà đã thở dốc dữ dội, tôi đành phải chậm bước chân lại, gần như vừa kéo vừa bế bà về đến nhà.
Đó là một tòa nhà tập thể kiểu cũ xây từ đầu những năm tám mươi, tòa nhà gạch đỏ sáu tầng, tường ngoài không ốp gạch, trong kẽ gạch mọc đầy rêu xanh thẫm. Cầu thang rất hẹp, đèn cảm ứng đã hỏng, tôi dìu bà trong bóng tối lên tầng bốn, mỗi bước đi đều hết sức cẩn trọng. Bà lấy từ trong túi ra chùm chìa khóa quấn dây đỏ, tay run lên mấy lần mới cắm được vào ổ khóa. Khi cánh cửa mở ra, một mùi đặc trưng của những ngôi nhà cũ ùa vào mũi – mùi long n/ão, gỗ cũ, cơm canh thừa từ hôm qua và mùi ẩm mốc do quanh năm không thấy ánh mặt trời trộn lẫn vào nhau.
Căn phòng không lớn, hai phòng ngủ một phòng khách, rộng khoảng năm mươi mét vuông. Trong phòng khách đặt một bộ sofa vải kiểu cũ, lò xo đã lún xuống, ngồi vào là sẽ lõm thành một hố. Bàn trà mặt kính, bên dưới đ/è vài tấm ảnh cũ đã ố vàng. Trên tủ tivi đặt một chiếc tivi màu Trường Hồng rất cũ, điều khiển được quấn mấy vòng băng dính trong suốt. Cửa sổ hướng đông, nắng chiều xiên xẹo chiếu vào, đổ xuống sàn nhà một vệt sáng hình chữ nhật, những hạt bụi lơ lửng trong không khí chầm chậm xoay tròn trong vệt nắng.
Tôi dìu bà Chu ngồi xuống sofa, rót cho bà một cốc nước ấm. Bà bưng cốc uống hai ngụm, tay vẫn còn run, nước đổ ra cổ áo một ít. Tôi lấy khăn từ nhà vệ sinh lau giúp bà, rồi hỏi vị trí th/uốc hạ huyết áp – bà nói ở ngăn kéo thứ hai của tủ đầu giường. Khi tôi đi vào lấy th/uốc, tôi để ý thấy phòng ngủ của bà rất nhỏ, một chiếc giường đơn một mét hai kê sát tường, trên tủ đầu giường đặt một chiếc đèn bàn kiểu cũ, một chiếc đài radio, một cuốn "Hồng Lâu Mộng" đã sờn mép. Dưới gối lộ ra một đoạn cổ chai dầu hoa hồng, đệm tuy trải ngay ngắn nhưng vải ở mép đã mòn lộ cả bông bên trong.