Tôi giúp bà uống th/uốc, nhìn bà uống xong rồi ngồi lại trên sofa trò chuyện cùng bà một lát. Bà nói năm nay bà bảy mươi mốt tuổi, chồng mất tám năm, con trai mất hai mươi mốt năm. Tiền lương hưu mỗi tháng của bà hơn hai nghìn tệ, đủ ăn đủ th/uốc, nhưng không thuê nổi người giúp việc, cũng chẳng có ai ngó ngàng đến bà. Người cháu trai duy nhất sống ở thành phố bên cạnh, một năm đến thăm một lần, lần nào cũng chưa ngồi được nửa tiếng đã đi. Khi nói những lời này, giọng điệu của bà rất bình thản, như thể đang kể chuyện của người khác, chỉ khi nhắc đến câu "năm con trai tôi đi, nó mới ba mươi mốt tuổi", giọng bà khựng lại, hốc mắt hơi đỏ lên, nhưng rất nhanh đã trở lại vẻ tĩnh lặng.
Lúc tôi ra về trời đã gần sáu giờ, sắc trời tối dần, đèn cảm ứng ở cầu thang vẫn hỏng. Bà Chu vịn khung cửa tiễn tôi, miệng không ngừng nói: "Cô gái à, cảm ơn cháu, thật sự cảm ơn cháu". Tôi bảo: "Bà ơi bà đừng tiễn nữa, vào trong đi ạ, gió to lắm". Bà đứng ở cửa không nhúc nhích, hai tay đan vào nhau đặt trước ngựk, dáng người g/ầy nhỏ tựa như một khóm lau già bị gió thổi cong. Khi tôi đi xuống được nửa tầng lầu, tôi ngoái đầu nhìn lại, bà vẫn đứng ở cửa, ánh đèn từ trong phòng hắt ra sau lưng bà, viền lên mái tóc hoa râm của bà một lớp ánh sáng vàng ấm áp.
Đêm đó nằm trên chiếc giường phản cứng trong phòng trọ, tôi trằn trọc mãi mới chìm vào giấc ngủ. Trong đầu tôi cứ hiện đi hiện lại hình ảnh bà Chu ngồi xổm bên rãnh thoát nước, cùng bàn tay r/un r/ẩy khi bà bưng cốc nước ngồi trên sofa. Tôi chợt nhớ đến bà nội của mình, năm tôi bảy tuổi bà mất, lúc đi cũng bảy mươi mấy tuổi, cũng một mình nằm trên chiếc giường ở căn nhà cũ, xung quanh chẳng có ai. Sau đó rất nhiều năm, tôi thường mơ thấy bà nội ngồi trên bậc cửa kh//âu đế giày, ánh nắng chiếu lên mái tóc hoa râm, bà ngẩng đầu cười với tôi, vừa cười là tôi tỉnh giấc, tỉnh dậy là căn phòng tối om, chẳng có ai ngoài chính mình.
Chuyện sau đó cứ thế bắt đầu một cách tự nhiên. Ban đầu chỉ là tiện đường – căn phòng trọ của tôi không xa ngõ Ngô Đồng, tan làm đi ngang qua thì ghé vào ngồi một chút, mang cho bà bó rau, đổ giúp túi rác, xem hộ bà đồng hồ nước, đồng hồ điện. Có lần tôi đến đúng lúc bóng đèn nhà bà bị hỏng, bà kê ghế đứng lên, kiễng chân với tay, một chân ghế bị lỏng, lắc lư khiến tôi nhìn mà thót tim. Tôi vội vàng đỡ bà xuống, tự mình leo lên thay bóng đèn. Bà đứng dưới ngước đầu nhìn tôi, miệng không ngừng nói: "Cô gái ơi cháu chậm thôi, chậm thôi", trong giọng nói có vẻ dè dặt chỉ khi được người khác chăm sóc mới có.
Thay xong bóng đèn, tôi nhảy từ trên ghế xuống, bà nắm lấy tay tôi, hốc mắt hơi đỏ: "Cô gái, cháu tên là gì? Bà vẫn chưa biết tên cháu."
"Cháu tên Thẩm Đường Khê, Đường trong cây đường lê, Khê trong dòng suối nhỏ ạ."
"Đường Khê, Đường Khê..." Bà lẩm nhẩm cái tên này hai lần, như đang thưởng thức hương vị gì đó, "Nghe hay quá. Người nhà gọi cháu là gì?"
"Người nhà gọi cháu là Tiểu Đường. Mẹ cháu mất rồi, bố cháu tái hôn xong thì ở quê, cũng không liên lạc nhiều."
Bà im lặng một lúc rồi vỗ vỗ tay tôi: "Tiểu Đường, sau này nếu rảnh thì cứ thường xuyên qua chơi nhé. Bà chỉ có một mình, đến người nói chuyện cũng không có."
Từ ngày đó, tần suất tôi đến nhà bà từ một hai lần mỗi tuần tăng lên ba bốn lần, sau đó thành gần như mỗi ngày. Tan làm tôi về chỗ mình cất đồ, rồi đạp xe ra chợ m/ua ít rau, sau đó đến ngõ Ngô Đồng. Căn bếp nhà bà rất nhỏ, bếp ga bằng thép không gỉ đã dùng nhiều năm, bề mặt chằng chịt những vết xước. Khi tôi nấu cơm, bà ngồi bên cạnh, lúc thì giúp tôi bóc tỏi, lúc thì nhặt rau, nhưng phần lớn thời gian bà chỉ ngồi đó nhìn tôi, trong mắt có một thứ ánh sáng rất tĩnh lặng. Máy hút mùi kêu o o, thức ăn trong nồi xèo xèo trên lửa, nắng chiều xiên qua cửa sổ chiếu vào, nhuộm mái tóc bạc của bà thành màu vàng nhạt. Những chiều tối ấy mang một sự bình yên kỳ lạ, như thể được thứ gì đó nâng niu nhẹ nhàng, treo lơ lửng giữa những kẽ hở của cuộc sống thường nhật, trôi đi một cách chậm rãi, không vội vã.
Tôi dần nhận ra cuộc sống một mình của bà khó khăn đến nhường nào. Chân bà bị viêm khớp nặng, mỗi khi lên xuống cầu thang đầu gối lại phát ra tiếng kêu cọt kẹt, đi một bậc thang lại phải dừng lại nghỉ một chút. Mắt bà bị đục thủy tinh thể rất nặng, nhìn gần thì mờ, nhìn xa thì trắng xóa, thường xuyên nhầm muối thành đường, bột giặt thành bột mì. Răng bà rụng gần hết, mấy chiếc còn lại cũng lung lay, đồ cứng không nhai nổi, bữa nào cũng phải nấu thật mềm mới ăn được. Đêm bà ngủ không ngon, cứ phải dậy đi vệ sinh hai ba lần, sợ ngã nên cứ phải lần mò vịn tường mà đi từ giường tới nhà vệ sinh. Những căn b/ệnh tuổi già của bà nhiều đến mức sau này tôi không đếm xuể – cao huyết áp, b/ệnh mạch vành, thoát vị đĩa đệm, viêm phế quản mãn tính, phong thấp, ù tai, hoa mắt, táo bón... thứ nào cũng chẳng gây ch*t người ngay, nhưng thứ nào cũng đang bào mòn bà từng chút một.