Mùa đông năm 2012, tỉnh lỵ có một trận tuyết lớn. Sáng hôm đó khi tôi đến nhà bà, phát hiện bà nằm trên giường không dậy nổi, chăn đắp kín mít, mặt đỏ một cách bất thường. Tôi đưa tay sờ trán bà, nóng đến phát hoảng. Bà sốt mê man, miệng lảm nhảm những lời vô nghĩa, chốc chốc lại gọi "Kiến Quốc, con về rồi à", chốc chốc lại gọi "Mẹ lạnh quá". Kiến Quốc là tên con trai bà. Tôi đo thân nhiệt cho bà, ba mươi chín độ hai, lục tìm hộp th/uốc thì thấy th/uốc hạ sốt đã quá hạn từ lâu. Tuyết bên ngoài vẫn rơi, xe buýt ngừng chạy, taxi cũng không gọi được. Tôi khoác áo phao cho bà, quàng thêm chiếc khăn của mình, rồi cõng bà xuống tầng bốn. Tuyết trên cầu thang bị giẫm ch/ặt lại, trơn trượt vô cùng, một tay tôi vịn tường, một tay đỡ bà, mỗi bước xuống đều phải dò dẫm chắc chắn mới dám đặt chân. Bà nằm trên lưng tôi, hơi thở nóng hổi phả vào gáy, cơ thể nhẹ bẫng như một nắm củi khô.

Đến trạm y tế cộng đồng, bác sĩ bảo bị viêm phổi, cần nhập viện. Tôi lại cõng bà chuyển sang b/ệnh viện quận gần đó, đóng tiền, làm thủ tục, lấy th/uốc, truyền dịch, chạy ngược chạy xuôi vất vả suốt cả một ngày. Khi bà nằm trên giường b/ệnh truyền dịch, tôi ngồi trên chiếc ghế nhựa bên cạnh mới phát hiện ra cả người mình đã ướt sũng – áo khoác thấm đẫm nước tuyết, áo len bên trong ướt đẫm mồ hôi dính ch/ặt vào lưng, vừa lạnh vừa dính. Chiếc ghế lạnh thấu xươ/ng, hai chân tôi mỏi nhừ và căng cứng, từ sáng ra khỏi nhà đến lúc đó chưa ăn một hạt cơm, chưa uống một ngụm nước, dạ dày trống rỗng đến cồn cào. Thế nhưng nhìn bà nằm trên giường b/ệnh ngủ yên, hơi thở dần ổn định, cơn sốt cũng hạ bớt, tảng đ/á đ/è nặng trong lòng tôi mới được trút bỏ.

Lần đó bà nằm viện năm ngày, tôi ở lại b/ệnh viện chăm bà năm ngày. Mỗi đêm tôi chỉ gục bên thành giường chợp mắt một chút, sáng hôm sau dùng vòi nước trong nhà vệ sinh b/ệnh viện để rửa mặt đá/nh răng, rồi xuống căng tin m/ua hai bát cháo. Bà chị giường bên cạnh lúc đầu tưởng tôi là cháu gái bà, sau khi nghe nói tôi chỉ là người "quen trên đường" không thân không thích, mắt trợn tròn: "Cô gái à, lòng dạ cô cũng tốt quá rồi đấy? Cô mưu cầu cái gì chứ?"

Tôi cười cười không nói gì. Mưu cầu cái gì ư? Câu hỏi này sau đó tôi đã tự hỏi mình rất nhiều lần, nhưng lần nào cũng không có câu trả lời nào thật sự rõ ràng. Giống như khi đi trên đường nhìn thấy một con mèo bị thương, tôi không thể bỏ mặc nó ở đó – không phải vì tôi mưu cầu điều gì ở nó, mà đơn giản là vì tôi không đành lòng. Với tôi, bà Chu cũng giống như con mèo đó, bà già rồi, ốm đ/au, đơn đ/ộc, tôi giúp bà là do bản năng, một bản năng không cần tính toán thiệt hơn. Tất nhiên, những lời này tôi chưa bao giờ nói với ai, nói ra nghe thật sáo rỗng, hơn nữa trong cái thời đại mà cái gì cũng đòi hỏi sự trao đổi ngang giá này, nói "không cầu báo đáp" sẽ khiến người ta nghĩ bạn ngốc, hoặc nghĩ bạn đang nói dối.

Ngày bà Chu xuất viện, tôi dìu bà từ từ đi bộ về ngõ Ngô Đồng. Tuyết đã tạnh, tuyết tích trên mặt đường đã được công nhân vệ sinh xúc sang hai bên, chất thành từng đống xám đen. Mặt trời ló dạng, chiếu lên mặt tuyết sáng lóa đến chói mắt. Bà đi rất chậm, mỗi bước chân như phải dùng hết sức lực, nhưng tinh thần của bà tốt hơn trước khi nhập viện nhiều, mặt đã có sắc hồng, giọng nói cũng vang hơn. Đến dưới lầu, bà dừng lại nghỉ hồi lâu, vịn tay vịn cầu thang ngước nhìn tôi, đột nhiên nói một câu: "Tiểu Đường, cái mạng này của bà là do cháu nhặt về đấy."

"Bà đừng nói vậy ạ."

"Bà nói thật mà." Bà nắm ch/ặt tay tôi, bàn tay ấy rất g/ầy, da mỏng đến mức nhìn thấy cả những mạch m/áu xanh tím bên dưới, "Sau khi chồng bà mất, bà thực sự không muốn sống nữa. Lúc con trai bà đi, bà cũng đã ch*t nửa đời, nửa đời còn lại giữ lại cũng chỉ là sống mòn. Nếu không gặp cháu, ngày đó bà ngồi xổm ở ngõ không đứng dậy nổi, bà cứ ngồi như thế, ngồi đến tối mịt cũng chẳng có ai ngó ngàng. Khoảnh khắc cháu đỡ bà dậy, bà đã nghĩ, trên đời này vẫn có người chịu quan tâm đến bà lão này, liệu mình có thể sống tiếp được không?"

Khi nói những lời này bà không khóc, giọng điệu bình thản như đang nói về thời tiết, nhưng những ngón tay bà đang run nhẹ. Tôi nắm ch/ặt tay bà, nói một câu: "Bà ơi bà đừng nghĩ lung tung, bà cứ sống tốt, thế là hơn tất cả rồi." Đó là lần đầu tiên tôi gọi bà là "Bà", khi thốt ra lời đó, chính tôi cũng sững sờ một chút. Bà nghe xong mắt sáng lên, đôi môi mấp máy, cuối cùng không nói gì, chỉ gật đầu thật mạnh.

Sau đó, tôi gọi bà là "Bà Chu" suốt mười mấy năm, bà gọi tôi "Tiểu Đường" cũng suốt mười mấy năm. Hai cách xưng hô này giữa chúng tôi giống như một sợi dây vô hình, mỗi năm lại càng bện ch/ặt hơn, càng bện càng dày, cuối cùng dày đến mức cả hai đều quên mất nó bắt đầu từ khi nào và vì lý do gì mà kết lại.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm