Tôi đưa tay nắm lấy bàn tay vẫn còn hơi ấm của bà. Bàn tay ấy g/ầy chỉ còn trơ lại nắm xươ/ng, da nhăn nheo rủ xuống, khớp xươ/ng nổi lên, móng tay được c/ắt rất ngắn và gọn gàng – lần cuối cùng là do tôi c/ắt cho bà, ngay hai ngày trước khi bà nhập viện ICU. Khi đó bà đã chẳng còn chút sức lực nào, lúc tôi c/ắt móng tay, những ngón tay bà cuộn lại trong lòng bàn tay tôi, giống như một chú chim nhỏ tĩnh lặng, không thể bay lên. Giờ đây tôi nắm lấy chú chim ấy, nó không còn cử động nữa.
Tôi đứng bên giường, không khóc. Tôi cứ nắm lấy tay bà đứng đó, đứng khoảng chừng mười mấy phút. Y tá đi vào khẽ nói: "Cô Thẩm, chúng ta cần làm thủ tục thôi", tôi mới buông bàn tay ấy ra, giúp bà chỉnh lại cổ áo b/ệnh nhân cho ngay ngắn, rồi dùng mu bàn tay chạm nhẹ lên trán bà – lạnh ngắt, cách biệt với thân nhiệt của tôi một khoảng cách của hai thế giới.
Tôi bước ra khỏi ICU. Ánh đèn trong hành lang vẫn trắng dã, b/ệnh viện lúc ba giờ sáng tĩnh lặng như một tòa thành hoang vắng. Tôi ngồi xuống chiếc ghế nhựa đó, ngồi rất lâu. Thang máy lên lên xuống xuống, thỉnh thoảng có y tá trực ca đẩy xe hàng đi ngang qua, bánh xe phát ra tiếng "cọc cạch" trên nền gạch. Màn đêm ngoài cửa sổ đặc quánh như mực, trên cây cầu vượt phía xa thỉnh thoảng có ánh đèn xe lướt qua, giống như một con mắt chớp rồi lại nhắm.
Tôn Kiến Quốc đến vào sáng hôm sau. Anh ta nhận được điện thoại của b/ệnh viện báo tin bà đã mất, trong giọng điệu không nghe ra cảm xúc gì, chỉ nói: "Được, tôi qua ngay". Sau khi đến, anh ta đứng ở hành lang nói với tôi vài câu, đại ý là chuyện tang lễ anh ta sẽ lo, bảo tôi không cần bận tâm nữa. Tôi gật đầu, nói một câu: "Vậy hậu sự của bà Chu đành nhờ anh cả". Anh ta nhìn tôi một cái, dường như muốn nói gì đó nhưng cuối cùng không nói, quay người đi làm thủ tục.
Chiều hôm đó tôi trở về ngõ Ngô Đồng. Tôi đứng dưới lầu ngước nhìn lên ô cửa sổ tầng bốn, rèm cửa kéo kín, yên tĩnh lặng tờ, tựa như một người đang chìm vào giấc ngủ. Tôi lên lầu, mở cửa, trong nhà vẫn giữ nguyên dáng vẻ của mấy ngày trước. Cốc nước trên bàn trà mà tôi chưa kịp dọn vẫn để đó, trên mặt nước phủ một lớp bụi mỏng. Cây quân tử lan trên bậu cửa sổ lá rũ xuống, đất đã khô cằn. Tôi cầm bình tưới nước cho nó, rồi rửa cốc trên bàn trà, sắp xếp lại các lọ gia vị trên bếp, gấp khăn trong nhà vệ sinh đặt lên giá. Khi làm những việc này, động tác của tôi rất chậm, rất nhẹ, như sợ làm kinh động đến điều gì đó. Sau khi làm xong tất cả, tôi ngồi xuống chiếc ghế mây cũ ấy.
Chiếc ghế phát ra tiếng "cọt kẹt", giống hệt như mười sáu năm về trước. Ánh nắng từ cửa sổ hướng đông chiếu vào, rơi trên vai trái tôi. Tôi ngồi đó, nhìn cây ngô đồng ngoài cửa sổ, cành lá trụi lủi, bầu trời mùa đông xám trắng và xa xăm. Từ nhà hàng xóm truyền đến tiếng tivi ồn ào, trên mái nhà để xe đạp dưới lầu có con mèo hoang đang kêu xuân, ngoài đường lớn phía xa, xe cộ cán qua nắp cống phát ra tiếng "khuông khoang". Mọi thứ ở thành phố này vẫn vận hành như thường lệ, mọi thứ ở ngõ Ngô Đồng đều giống như ngày hôm qua, chỉ là trong căn phòng tầng bốn này thiếu đi một người, thiếu đi một mùi hương, thiếu đi một tiếng ho vọng ra từ bếp, thiếu đi một lời chào "Tiểu Đường cháu đến rồi à".
Tôi ngồi trên chiếc ghế mây ấy suốt cả một buổi chiều, ngồi đến khi ánh sáng ngoài cửa sổ từ xám trắng chuyển sang cam đỏ rồi sang xanh thẫm, ngồi đến khi đèn đường bật sáng đổ một vệt sáng vàng vọt xuống nền nhà phòng khách, ngồi đến khi bụng đói đến mức không còn cảm giác, tay chân lạnh cứng. Sau đó tôi đứng dậy, đóng cửa sổ, kéo rèm, kiểm tra lại điện nước, khóa cửa lại, rồi bỏ chiếc chìa khóa quấn dây đỏ vào túi.
Khi tôi đi xuống lầu, trong cầu thang tôi gặp bà lão họ Lý ở tầng dưới. Bà nhìn thấy tôi, lộ ra vẻ mặt mà chỉ những người hàng xóm làm hàng xóm cả đời mới có, vừa tò mò lại vừa không dám hỏi nhiều: "Tiểu Thẩm à, bà Chu bà ấy..."
"Đi rồi ạ, rạng sáng nay."
"Haizz..." Bà lão họ Lý thở dài, "Cũng phải, hơn tám mươi rồi, chịu khổ nhiều rồi. Những năm qua thật nhờ có cháu đấy Tiểu Thẩm, cháu đúng là không dễ dàng gì."
Tôi cười cười, nói một câu "đó là việc nên làm", rồi xuống lầu.
Đêm đó tôi trở về phòng trọ của mình. Căn phòng trọ chưa đầy hai mươi mét vuông trong khu nhà ở, lớp sơn tường bong tróc vài mảng, góc trần nhà có một vết ố nước, cửa sổ đóng không ch/ặt, mùa đông lùa gió, mùa hè vào muỗi. Tôi nằm trên giường, vết ố trên trần nhà trong bóng tối không nhìn rõ nữa, nhưng nhắm mắt lại tôi vẫn có thể vẽ ra hình dáng của nó. Tôi trằn trọc không ngủ được, trong đầu như chiếu phim, vô số hình ảnh hiện lên – bà ngồi xổm bên rãnh thoát nước, bà ngồi trên sofa uống nước nóng, tôi cõng bà xuống lầu lúc bà nhập viện, bà nắm ch/ặt tay tôi đầy lo lắng khi phẫu thuật đục thủy tinh thể, lần bà ngã đ/au đến mức thở không ra hơi, lúc bà cắm đầy ống trong ICU, và dáng vẻ cuối cùng khi bà nằm yên tĩnh trên giường b/ệnh. Những hình ảnh đó cứ từng khung hình một chạy qua trong đầu tôi, đến tận nửa đêm tôi mới chìm vào giấc ngủ mơ màng.