Sáu giờ sáng, tiếng chuông báo thức vang lên. Tôi vẫn như thường lệ thức dậy, vệ sinh cá nhân, ra khỏi nhà, lên tàu điện ngầm rồi đi làm. Phòng trà nước ở tòa nhà văn phòng, sàn nhà hành lang công ty, gạch men trong nhà vệ sinh, bàn họp bằng kính trong phòng họp – tôi lau chùi chúng, vẫn tận tâm như trước giờ vẫn vậy. Quản lý không nhận ra điều gì khác thường, đồng nghiệp cũng chẳng ai hỏi han. Trong hồ sơ của công ty giúp việc, tôi chỉ là một lao công bình thường, không ai biết tôi vừa tiễn biệt một bà lão mà mình đã chăm sóc suốt mười sáu năm qua.
Tang lễ diễn ra ba ngày sau đó. Tôn Kiến Quốc lo liệu, rất đơn giản – gói dịch vụ rẻ nhất của nhà tang lễ, hỏa táng, một phòng tiễn biệt nhỏ, toàn bộ quy trình gói gọn trong chưa đầy hai tiếng. Người đến đưa tang hôm đó rất ít – tôi, Tôn Kiến Quốc, một nhân viên cộng đồng, hai người đồng nghiệp cũ ở nhà máy của bà Chu, vài người hàng xóm lớn tuổi ở ngõ Ngô Đồng, tổng cộng chưa đầy mười người. Phòng tiễn biệt rất nhỏ, vòng hoa cũng thưa thớt, không khí bao trùm bởi mùi trầm hương rẻ tiền. Di ảnh của bà Chu là tấm ảnh cũ Tôn Kiến Quốc tìm thấy trong nhà bà rồi đem đi phóng lại, trong ảnh bà chừng hơn sáu mươi tuổi, tóc chưa bạc trắng, nụ cười rất hiền hậu.
Hôm đó trời mưa lất phất. Cơn mưa mùa đông, mảnh như kim châm, rơi trên mặt lạnh buốt. Sau khi nghi thức tiễn biệt kết thúc, mọi người đi ra ngoài, từ ống khói nhà tang lễ bốc lên một làn khói xám trắng, lên đến lưng chừng trời thì bị gió thổi tan trong màn mưa. Tôi đứng phía sau đám đông, không che ô, nhìn theo hướng làn khói ấy tan biến. Bà lão họ Lý bước tới vỗ vai tôi, nói một câu: "Tiểu Thẩm, hãy nén bi thương". Tôi gật đầu. Nước mưa chảy dọc theo tóc tôi, tôi cảm thấy má mình ướt đẫm, chẳng rõ là nước mưa hay thứ gì khác.
Tôn Kiến Quốc đứng ngoài phòng tiễn biệt một lát để nghe vài cuộc điện thoại, rồi bước tới nói với tôi: "Cô Thẩm, hậu sự của cô tôi cơ bản đã xong. Vài ngày nữa tôi xử lý việc di sản, khi nào có tình hình gì tôi sẽ liên lạc với cô."
"Vâng," tôi nói.
Anh ta nói xong liền rời đi, che một chiếc ô đen, giày da giẫm trên nền xi măng ướt át, bóng lưng nhanh chóng biến mất trong màn mưa.
Mười ngày tiếp theo, tôi vẫn đi làm tan làm như thường lệ, nhưng tôi luôn cảm thấy trong lòng trống rỗng một mảng. Sự trống rỗng đó không phải là đ/au thương – đ/au thương thì đậm đặc, nặng nề, có hình hài, còn sự trống rỗng ấy giống như một cái hang bị đào rỗng, các cạnh đều phẳng, nhẵn nhụi, chẳng có gì cả, gió lùa qua đó chẳng phát ra tiếng động, đặt thứ gì vào cũng sẽ rơi xuống không đáy. Tan làm xong, tôi không biết nên đi đâu, theo thói quen lại hướng về ngõ Ngô Đồng, đến đầu ngõ mới sực nhớ ra trong căn phòng kia đã không còn người nữa. Tôi đứng ở đầu ngõ một lát, rồi quay người trở về phòng trọ của mình. Lúc nấu cơm, tôi vẫn theo thói quen nấu phần cho hai người, đến khi múc ra mới phát hiện ăn không hết, đành phải đổ đi. Trước khi ngủ tối, tôi vẫn theo thói quen nhìn điện thoại, sợ bà gọi điện lúc nửa đêm, nhưng điện thoại vẫn lặng im, không còn cái số quen thuộc ấy sáng lên nữa.
Chiều ngày thứ mười, nhân viên cộng đồng gọi điện cho tôi. Giọng cô gái trẻ trong điện thoại rất dè dặt, như thể đang cầm trên tay một củ khoai nóng bỏng: "Cô Thẩm, bà Chu Tú Lan lúc sinh thời có lập một bản di chúc, đã công chứng tại phòng công chứng, chúng tôi bây giờ theo quy trình thông báo nội dung liên quan cho cô. Tài sản đứng tên bà Chu – căn nhà 401, đơn nguyên 3, số 48 ngõ Ngô Đồng, quận Đông Thành, cùng với số tiền tiết kiệm và tiền lương hưu dư lại của bà, tổng cộng khoảng một triệu nhân dân tệ – tất cả đều quyên góp cho Viện phúc lợi trẻ em Ánh Dương của tỉnh lỵ. Thứ bà để lại trong di chúc cho cô là... tám trăm tệ."
Tám trăm tệ.
Tôi cầm điện thoại đứng trước cửa sổ. Bầu trời tháng Hai xám trắng, chậu cây trầu bà dở sống dở ch*t trên bậu cửa – tôi đã lâu không tưới nước cho nó – mấy chiếc lá rũ xuống với những mép lá vàng úa. Chiếc xe ba bánh thu gom phế liệu dưới lầu đi qua kêu cọc cạch, người b/án hàng dùng loa phóng thanh rao: "Thu m/ua tủ lạnh cũ, máy giặt cũ, tivi cũ". Mọi thứ ồn ào như thường lệ, mọi trật tự đều ngăn nắp. Chỉ có tôi đứng đó, như thể bị ai đó rút mất thứ gì đó ra khỏi cơ thể, gió thổi qua là thấu tận tâm can.
Cô gái trong điện thoại vẫn đang nói gì đó – đại loại là quy trình, thủ tục, hiệu lực pháp lý các thứ. Tôi nghe không rõ lắm, trong tai ù ù, như có con ong đang vo ve trong đó. Cuối cùng tôi nghe thấy cô ấy hỏi: "Cô Thẩm, cô vẫn ổn chứ?", tôi đáp: "Tôi không sao", rồi cúp máy.
Tôi đặt điện thoại lên bậu cửa sổ, ngồi xuống mép giường.
Tám trăm tệ.
Mười sáu năm. Một trăm chín mươi hai tháng. Năm nghìn tám trăm bốn mươi ngày. Lương của tôi từ tám trăm sáu tăng lên hai nghìn tám rồi ba nghìn ba, đuôi mắt tôi từ mịn màng sinh ra nếp nhăn rồi xuất hiện vết đồi mồi, thanh xuân của tôi từ hai mươi bảy tuổi trôi đến bốn mươi ba tuổi – thứ bà để lại cho tôi, là tám trăm tệ.
Tám trăm tệ có thể m/ua được gì? Một chiếc áo phao, ba đôi giày, mười lần mát-xa, năm mươi cân sườn, một trăm cân gạo, ba trăm cái bánh bao th!t, tám trăm cái bánh màn thầu đều khắc chung một ngày – ngày 17 tháng 3 năm 2010, buổi chiều ngày hôm đó, khi tôi đỡ bà dậy từ bên rãnh thoát nước.