Tại sao bà Chu lại lập một bản di chúc như vậy, câu hỏi này tôi đã tự hỏi mình rất nhiều lần trong những đêm khuya khoắt. Tôi từng nghĩ liệu bà có bị ai lừa gạt không, nghĩ liệu người cháu trai kia có giở trò gì không, hay nghĩ liệu trong khoảng thời gian hồ đồ cuối đời, bà có bị ai tác động hay không. Nhưng sau đó tôi lại thấy, những suy đoán ấy chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Di chúc được lập khi bà hoàn toàn tỉnh táo tại phòng công chứng, giấy trắng mực đen, con dấu chữ ký rõ ràng, mọi thứ đều hợp pháp hợp quy. Bà chọn hiến tặng gia sản triệu tệ cho viện phúc lợi và để lại cho tôi tám trăm tệ. Đó là quyết định của bà, tôi không có quyền nghi ngờ, cũng không có quyền truy hỏi. Giống như mười sáu năm trước, khi bà ngồi xổm bên rãnh thoát nước, tôi đã chọn đỡ bà dậy – đó là ý chí tự do của một con người, là quyền lợi thuộc về bà mà bà đã thực hiện trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời.

Thế nhưng tôi vẫn muốn biết, trong suốt mười sáu năm ấy, mỗi buổi chiều bốn giờ rưỡi, tia nắng chiếu qua cửa sổ hướng đông, rơi đúng trên vai trái tôi, nhiệt độ của nó rốt cuộc là bao nhiêu? Đó là điều mà các văn bản giấy tờ không thể trả lời được. Đó là điều mà chậu quân tử lan đã khô héo kia có thể trả lời – nó đã sống dưới ánh nắng ấy bao nhiêu năm, mỗi chiếc lá của nó đều lưu giữ ký ức về những tia nắng đó. Là chiếc cốc tráng men có thể trả lời – nó đã được một đôi bàn tay già nua nâng niu qua vô số buổi chiều, vết mẻ của nó tích tụ hơi ấm của từng ngụm nước. Là chiếc ghế mây có thể trả lời – mỗi thanh tre của nó đều đã bị sức nặng của một người phụ nữ trung niên đ/è lên vô số lần, trong mỗi tiếng "cọt kẹt", nó đều ghi lại độ dài của những buổi chiều ấy.

Nhưng tôi không thể hỏi chúng. Cây quân tử lan đã héo, chiếc cốc tráng men vẫn còn phủ bụi trên bàn trà trong căn nhà cũ, chiếc ghế mây vẫn trống không, không có ai ngồi lên thì nó không còn phát ra âm thanh nữa. Tất cả chúng vẫn ở đó, trong căn phòng trống rỗng trên tầng bốn, dùng sự im lặng để bảo vệ những thứ không thể được văn bản pháp luật công nhận, không thể được định giá bằng bất kỳ điều khoản nào. Mặt trời mọc rồi lặn, mỗi buổi chiều bốn giờ rưỡi, ánh sáng vẫn chiếu qua cửa sổ hướng đông, rơi trên tay vịn của chiếc ghế trống, chậm rãi di chuyển, chậm rãi nhạt dần, chậm rãi biến mất, rồi ngày hôm sau lại đến đúng giờ, đi đúng lúc. Không còn ai ngồi đó nữa, không còn ai đưa tay đón lấy vệt sáng ấy nữa, nhưng nó vẫn chiếu, chiếu lên chiếc ghế trống, chiếc cốc không, chậu hoa khô, tựa như một lời hứa chưa bao giờ được thốt ra, âm thầm thực hiện nghĩa vụ của chính nó ở một nơi không có ai chứng kiến.

Đôi khi tôi nghĩ, nếu một ngày tôi quay lại căn phòng ấy, ngồi trên chiếc ghế mây, liệu tia nắng bốn giờ rưỡi chiều có còn rơi trên vai trái tôi như trước nữa không? Liệu nó có quên mất góc độ cố định đó không? Liệu có phải vì bụi trên cửa sổ tích tụ quá dày mà ánh sáng bị khúc xạ sang hướng khác? Liệu khi tôi ngồi xuống, tiếng "cọt kẹt" của thanh tre có còn như xưa, khi nó đã quá lâu không được đ/è lên, mất đi sự mềm mại vốn được tôi luyện bởi hơi ấm và sức nặng cơ thể?

Nhưng tôi không bao giờ quay lại đó nữa.

Căn phòng đó giờ đây không còn thuộc về bất kỳ ai liên quan đến bà Chu nữa. Nó thuộc về Viện phúc lợi trẻ em Ánh Dương, thuộc về những đứa trẻ mà tôi chưa từng gặp mặt, những đứa trẻ bị số phận đối xử bất công. Tôi không biết những đứa trẻ đó có chuyển đến ở không, có ngồi trên chiếc ghế mây đó không, có cảm nhận được trong ánh nắng của một buổi chiều nào đó, một bàn tay già nua từng dưới cùng vệt sáng ấy mân mê vết mẻ trên chiếc cốc tráng men không. Nếu một ngày chúng ngồi đó, nhìn thấy chiếc cốc tráng men phủ đầy bụi trên bậu cửa sổ, liệu có ai nhặt nó lên rửa sạch không, liệu có ai để ý thấy trên vành cốc có một vết mẻ nhỏ không, liệu có ai tò mò vết mẻ này do đâu mà có – là do một lần ho dữ dội khiến tay run đ/ập vào góc bàn trà, là do một lần dậy uống nước lúc nửa đêm bị bóng tối vấp ngã đ/ập vào tủ đầu giường, hay là vào khoảnh khắc có ai đó đẩy cửa bước vào, bà vội vàng đứng dậy khiến chiếc cốc trong tay đ/ập vào khung cửa.

Điều đó không quan trọng nữa. Vết mẻ ấy đã không còn nằm trong ký ức của bất kỳ ai. Nó chỉ lặng lẽ nằm đó trên mép chiếc cốc, giống như một chữ ký đã bị xóa đi, vết lõm vẫn còn, nhưng chẳng ai biết ngày xưa nó viết gì.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Đuổi đi thiên kim thật, cả nhà bỗng chốc đổi thay

Chương 7
Tôi được nhận vào làm bảo mẫu cho nhà họ Tần, cũng chính lúc đó, họ mới nhận ra tôi là tiểu thư thật sự của gia đình này. Tôi cứ ngỡ cuối cùng mình cũng đã vượt qua khổ ải, đón chờ ngày tươi sáng. Thế nhưng, mẹ Tần lại che chở cho cô con gái giả, bà bảo rằng người làm sai là mẹ ruột của cô ta, bà không hề nợ tôi điều gì. Cha Tần tặng cổ phần cho cô con gái giả, đến lượt tôi, ông lại nói tôi chỉ có bằng cấp hai, không giữ nổi tiền tài. Ba người anh em nhà họ Tần thậm chí còn đẩy tôi ra chịu tội thay khi cô con gái giả đắc tội với con gái của thị trưởng, chỉ để xoa dịu cơn giận của đối phương. Tôi chết tâm, tự nhủ rằng mình không có người thân nào cả. Vậy mà khi họ biết tôi định kiện mẹ nuôi, để cô con gái giả không phải có một người mẹ ngồi tù, họ đã tống tôi vào bệnh viện tâm thần suốt 2 năm. Sau khi trốn thoát, tôi dùng một tài khoản phụ đăng lên nhóm bảo mẫu ở thành phố Kinh một tin nhắn: "Bạn muốn con cái mình vượt lên tầng lớp thượng lưu ư? Vậy thì hãy nhìn vào trải nghiệm của tiểu thư thật sự nhà họ Tần đi."
Hiện đại
Tình cảm
0