Tàu điện ngầm đã đến ga. Tôi xuống tàu, bước lên mặt đất. Gió đêm thổi qua, mang theo hơi ẩm và mùi cỏ dại đặc trưng của mùa xuân. Tôi đi về phía khu nhà trọ, bước vào con ngõ hẹp, leo lên những bậc thang kêu cọt kẹt, rút chìa khóa mở cánh cửa của chính mình. Căn phòng rất nhỏ, đồ đạc đơn sơ, nhưng chậu cây trầu bà tôi c/ứu sống trên bậu cửa sổ đã nhú những mầm non, những chiếc lá nhỏ xanh mướt khẽ r/un r/ẩy dưới ánh đèn bàn.
Tôi tắt đèn, nằm xuống giường, nhắm mắt lại. Trong bóng tối, chiếc ghế mây kia vẫn đang bỏ trống trong căn phòng tầng bốn, chiều mai lúc bốn giờ rưỡi, ánh nắng vẫn sẽ chiếu vào đúng giờ, rơi trên thanh tre đã được mài nhẵn bóng. Sẽ chẳng có ai ngồi lên đó, chẳng có ai nghe thấy tiếng cọt kẹt của nó. Nhưng nó vẫn sẽ kêu – sau khi bị ánh nắng nung nóng, tre giãn nở, kéo căng, phát ra những âm thanh khẽ khàng đến mức gần như không nghe thấy. Đó là cách nó thay cho một người đã khuất, tiếp tục duy trì mối liên kết với thế giới này.
Còn tôi ở đây, ở đầu kia của thành phố, trong một căn phòng tối khác, nhắm nghiền đôi mắt. Trên vai trái tôi vẫn còn lưu lại nhiệt độ của vệt nắng chiều nơi phòng trà nước, vệt nắng từng chiếu qua cửa sổ hướng đông của căn 401, đơn nguyên 3, số 48 ngõ Ngô Đồng vào cùng một khung giờ, cùng một góc độ của mười sáu năm trước. Nó xuyên qua mười sáu năm thời gian, trượt từ mái tóc bạc của bà xuống vai trái tôi, góc độ không hề thay đổi, nhiệt độ cũng chẳng hề suy giảm. Nó vẫn luôn ở đó, trên mảng da nhỏ phía trên xươ/ng bả vai tôi, như một bàn tay vô hình, vào mỗi buổi chiều hoàng hôn, khẽ khàng và lặng lẽ đặt lên.
Di sản tám trăm tệ, mười sáu năm ánh nắng.
Tôi trở mình, vùi mặt vào gối. Chiếc thẻ tiết kiệm dưới vỏ gối vẫn nằm đó, giữa nó và mái tóc tôi chỉ cách một lớp vải bông mỏng. Tôi thậm chí cảm nhận được đường nét vuông vức của nó, như một lòng bàn tay khép lại, nắm giữ một bí mật mà bà chưa kịp nói cho tôi nghe.
Đợi khi đã sẵn sàng, tôi sẽ lấy nó ra. Đợi đến khi vệt nắng bốn giờ rưỡi chiều không còn khiến tôi phải ngoái đầu nhìn lại, đợi đến khi tôi có thể bình tâm bước vào số 48 ngõ Ngô Đồng, ngồi trên chiếc ghế mây ấy, đối diện với cái cây mới trồng ngoài cửa sổ mà nhấp một ngụm nước ấm. Đến lúc đó, tôi sẽ biết trong thẻ có bao nhiêu tiền, cũng sẽ biết khi bà viết sáu chữ "Tiểu Đường, sinh nhật vui vẻ", trong lòng bà rốt cuộc đang nghĩ điều gì.
Nhưng tôi biết, dù trong thẻ có bao nhiêu tiền đi chăng nữa, cũng không thể thay đổi trọng lượng của mười sáu năm ấy. Cũng không thể làm giảm đi sức nặng của vệt nắng trên vai trái tôi.
Đèn chỉ báo của máy nước nóng vẫn sáng trong phòng trà nước ở tầng hai mươi tám tòa nhà văn phòng, màu xanh, tĩnh lặng và không biết mệt mỏi. Chẳng ai buồn nhìn nó lấy một lần, nhưng nó vẫn sáng. Giống như một vài loại nhiệt độ, một vài sự hy sinh, một vài sự kiên trì âm thầm – chúng không được ghi chép, không được công chứng, không được bất kỳ bản di chúc nào nhắc đến. Nhưng chúng đã từng tồn tại. Chúng vẫn đang sáng.
Đã lâu rồi tôi không mơ thấy bà Chu. Lần cuối cùng mơ thấy bà, là khi bà đang ngồi trên chiếc ghế mây, cây ngô đồng ngoài cửa sổ vàng rực cả một góc trời, ánh nắng đặc quánh như mật ong. Bà quay đầu nhìn tôi, mỉm cười, những nếp nhăn nơi khóe mắt giãn ra như những đường gân lá mùa thu. Bà nói một câu, nhưng tôi nghe không rõ. Tôi ghé lại gần muốn nghe thêm lần nữa, thì bà tan biến, tựa như một làn khói xám trắng bốc lên từ ống khói, bị gió thổi tan trong màn mưa.
Giấc mơ tỉnh, trời ngoài cửa sổ vẫn chưa sáng. Tôi nằm trong bóng tối, vai trái trống trải. Ánh nắng bốn giờ rưỡi chiều còn lâu mới tới, nhưng tôi biết chắc chắn nó sẽ tới. Ngày nào cũng vậy.
Nó sẽ đến, sẽ rơi trên vai tôi. Như một lời hẹn chưa bao giờ lỗi hẹn. Như một tiếng cọt kẹt tự phát ra mà không cần di chúc nào x/ác nhận, không thể bị định giá bằng tám trăm tệ.
Một cuối tuần ba tháng sau, tôi dậy rất sớm. Sáu giờ sáng, trong con ngõ khu nhà trọ đã có người qua lại – những sạp b/án đồ ăn sáng đã dựng lên, mùi quẩy chiên lẫn với hương đậu nành ngọt ngào bay lên từ tầng dưới. Tôi đứng trước cửa sổ uống một cốc nước ấm, rồi mặc áo khoác ra ngoài.
Tôi không đi làm. Hôm nay tôi xin nghỉ, vì cuối cùng tôi đã quyết định làm việc đã trì hoãn suốt ba tháng qua.
Xe buýt băng qua nửa thành phố, cảnh đường phố ngoài cửa sổ từ khu nhà trọ đông đúc biến thành những đại lộ rộng lớn, rồi lại thành những dãy nhà ngày một thấp dần ở khu phố cổ. Tôi xuống xe ở trạm trước ngõ Ngô Đồng, dọc theo con đường đã đi suốt mười sáu năm, từng bước từng bước đi tới. Cuối tháng Ba, cây ngô đồng ở đầu ngõ đã mọc ra những tán lá non xanh mướt, những chiếc lá to bằng bàn tay khẽ lật qua lật lại trong gió sớm, ánh nắng lọt qua kẽ lá, rải đầy những đốm sáng li ti trên vỉa hè.