Tôi xử lý đồ đạc trong bếp chậm nhất. Những bát đĩa, nồi niêu, lọ gia vị, món nào tôi cũng đã dùng rất nhiều năm. Lọ nước tương đó là thứ tôi m/ua trong lần đầu tiên đến nhà bà nấu cơm, nhãn hiệu "Hải Thiên Lão Thấu" dán trên thân chai đã bị dầu mỡ thấm thành màu nâu sẫm. Chiếc nồi sắt nhỏ đó, dưới đáy nồi có một vết lõm nông, là do một lần tôi xào rau quá mạnh tay, cán xẻng đ/ập vào. Cán gỗ của con d/ao gọt hoa quả đã được mài nhẵn bóng, cầm lên rất vừa tay.
Tôi rửa sạch từng món một, hong khô, rồi xếp ngăn nắp vào thùng giấy.
Cuối cùng, tôi cầm chiếc cốc tráng men trên bàn trà. Thân cốc màu trắng, in họa tiết hoa mẫu đơn màu đỏ, họa tiết đã phai màu loang lổ, chỗ nhụy hoa chỉ còn lại một lớp màu hồng nhạt. Vết mẻ trên vành cốc vẫn còn đó, sờ vào không bị xước tay – vì được bà mân mê quá nhiều năm, các cạnh đã bị ngón tay mài cho tròn trịa.
Tôi đặt nó trong lòng bàn tay, lật đi lật lại ngắm nghía rất lâu. Trên nhãn dưới đáy cốc in dòng chữ "Nhà máy tráng men Quốc doanh Hồng Tinh", ngày sản xuất là năm 1987. Năm đó tôi bốn tuổi, bà năm mươi mốt tuổi, con trai bà vẫn còn sống. Chiếc cốc này tồn tại trên đời lâu hơn cả con trai bà, nó đã chứng kiến bà từ lúc có con trai trở thành không có con trai, từ có chồng trở thành không có chồng, từ một người ăn cơm trở thành hai người ăn cơm.
Tôi lấy một chiếc khăn sạch, lau sạch sẽ cả trong lẫn ngoài. Chỗ bị mẻ, tôi dùng đầu ngón tay khẽ xoa nhẹ, rồi đặt chiếc cốc lên bậu cửa sổ. Bên cạnh chậu quân tử lan, ánh nắng vừa vặn chiếu lên thân cốc, đóa mẫu đơn phai màu ấy khẽ lấp lánh trong luồng sáng.
Tôi dọn dẹp xong xuôi tất cả, mang túi rác và túi dệt xuống lầu. Phải đi lại ba chuyến mới xong, chuyến cuối cùng tôi đứng dưới lầu thở dốc, ngước nhìn ô cửa sổ tầng bốn một cái. Rèm cửa đã kéo ra, ánh nắng xuyên qua từ bên trong, bóng dáng chiếc cốc tráng men trên bậu cửa sổ thấp thoáng hiện ra, như một chấm nhỏ màu trắng, khảm vào giữa bức tường ngoài màu xám của tầng bốn.
Tôi khóa cửa cẩn thận, tháo chiếc chìa khóa khỏi chùm chìa khóa.
Khoảng hơn hai giờ chiều, tôi ghé qua ngân hàng bưu điện. Phòng giao dịch không lớn, có ba bốn quầy, vài người đang xếp hàng. Tôi lấy số thứ tự rồi chờ đợi, tay nắm ch/ặt chiếc thẻ. Đến lượt, tôi đưa thẻ vào quầy, cô bé mặc đồng phục bên trong quẹt thẻ, gõ vài cái lên bàn phím, rồi nhìn chằm chằm vào màn hình một lúc.
"Chào chị, số dư của thẻ này là bốn nghìn bảy trăm ba mươi tám tệ sáu hào. Chị cần làm thủ tục gì ạ?"
Bốn nghìn bảy trăm ba mươi tám tệ sáu hào. Tôi ngẩn người ra một lúc, rồi nói: "Rút ra đi, rút hết ra."
Cô bé làm thủ tục xong, đưa xấp tiền mặt và tiền lẻ ra từ quầy. Tôi nhận lấy và đếm lại, không sai, bốn nghìn bảy trăm ba mươi tám tệ sáu hào.
Tôi cất tiền vào ví rồi bước ra khỏi ngân hàng.
Đứng bên đường, gió tháng Ba thổi qua, mang theo những sợi bông liễu bay đến từ đâu đó, trắng muốt, từng túm nhỏ, xoay tròn giữa không trung, cực kỳ giống làn khói xám trắng từng bốc lên từ ống khói nhà tang lễ mùa đông năm nào rồi bị gió thổi tan. Tôi nắm ch/ặt xấp tiền còn vương mùi mực in trong ví, nhớ lại dòng chữ "Bà có dành dụm được một ít tiền trong thẻ tiết kiệm bưu điện" trên mẩu giấy kia. Bà nói "một ít tiền", với tiêu chuẩn của bà, bốn nghìn bảy trăm tệ quả thực chính là một ít tiền, là số tiền bà chắt chiu từ hơn hai nghìn tệ lương hưu mỗi tháng, dành dụm không biết bao nhiêu năm.
Số tiền này so với căn nhà và hơn trăm nghìn tệ tiền tiết kiệm mà bà để lại cho viện phúc lợi thì đúng là chỉ là phần lẻ của phần lẻ. Nhưng tôi lại thấy nó nặng hơn cả căn nhà đó. Bởi vì nó được giấu trong vỏ gối, giấu sau một mẩu giấy viết tay, giấu trong những ngày tháng bà lén ghi nhớ sinh nhật tôi. Căn nhà đó là do bà nghe theo lời khuyên của một người nào đó mà tôi không biết để lập di chúc công chứng hiến tặng, còn bốn nghìn tệ này là bà tự mình tiết kiệm từ sinh hoạt phí mỗi tháng, là khi bà nắm cây bút bi viết xiêu vẹo sáu chữ ấy, hơi ấm vẫn còn lưu lại trên thân bút.
Tôi bước vào cửa hàng văn phòng phẩm bên cạnh, m/ua một chiếc bút dạ màu đen và một cuộn băng dính trong. Trở lại cửa ngân hàng, tôi tìm một chỗ ngồi, lật mặt sau của chiếc thẻ. Trên miếng dán ghi sáu chữ "Tiểu Đường, sinh nhật vui vẻ", tôi nhìn rất lâu, rồi dùng bút dạ viết thêm vài chữ bên dưới – "Bà ơi, cháu cũng nhớ bà". Chữ viết rất x/ấu, xiêu vẹo, ngòi bút phải chọc mấy lần lên mặt thẻ mới ra mực. Viết xong, tôi dùng băng dính trong dán lại tờ giấy ấy, dán ch/ặt hơn trước, bọc cả chiếc thẻ trong một lớp màng bảo vệ trong suốt.
Tôi cất thẻ vào ví, để cùng với xấp tiền mặt đó.