Đến hồi "Kinh Mộng", Đỗ Lệ Nương vung tay áo dài, cả khán phòng vang dội tiếng vỗ tay tán thưởng.
Ta không nhịn được khẽ thở dài: "Gánh hát này diễn thật hay, nếu có thể xem thêm vài vở nữa thì tốt biết mấy."
Thích Minh nghiêng đầu nhìn ta, ý cười trong mắt càng thêm đậm: "Việc này có gì khó? Tiểu thư muốn xem bao nhiêu vở, liền xem bấy nhiêu vở."
Đang nói chuyện, vở kịch tạm nghỉ.
Cửa gian nhã bị đẩy ra, danh ca đóng vai Đỗ Lệ Nương trên sân khấu lúc nãy lại đích thân bước vào.
Người đó cúi người hành lễ với hai chúng ta, nhưng lại mở lời với Thích Minh: "Chủ nhân, vở "Du Viên Kinh Mộng" hôm nay, có vừa mắt ngài không?"
Ta ngỡ ngàng ngẩng đầu.
Thích Minh mỉm cười gật đầu, ra hiệu cho người kia lui xuống, lúc này mới quay sang ta: "Quên nói với nàng, gánh hát này do mấy cửa tiệm của nhà họ Thích ở phương Nam nuôi dưỡng. Nếu tiểu thư thích, ngày mai họ còn diễn vở "Trường Sinh Điện", đến lúc đó lại mời tiểu thư đến xem."
Ta ngẩn người, rồi bật cười thành tiếng.
Thì ra chàng không phải "chỉ biết chút da lông", mà căn bản chính là chủ nhân.
Sau khi tan hát, chúng ta lại cùng nhau đi nếm thử món ăn Hoài Dương mới mở ở phía tây thành.
Trong bữa tiệc bàn về phong vật phương Nam phương Bắc, chàng kể về tuyết ở Nhạn Môn Quan, tiếng chuông lạc đà trên sa mạc Gobi, trong mắt luôn ánh lên vẻ rạng rỡ.
Suốt hơn nửa tháng sau đó, ta và Thích Minh cứ cách ba năm ngày lại hẹn nhau ra ngoài.
Đi xem hát, dạo hồ...
Có khi chẳng làm gì cả, ngồi đối diện nhau trong quán trà cũng có thể trò chuyện suốt buổi chiều.
Có lần sau khi xem xong một vở kịch, ta bị cảm động đến mức nước mắt giàn giụa.
Thích Minh vừa đưa khăn tay cho ta, vừa mím môi cười.
Ta lườm chàng, hỏi chàng cười cái gì.
Chàng đáp: "Ta chỉ cảm thấy Thẩm nhị tiểu thư rất khác biệt so với những cô nương khác, vô cùng đáng yêu."
Mặt ta đỏ bừng, suốt một lúc lâu không thèm để ý đến chàng.
Tối hôm đó, mẫu thân liền mò đến viện của ta, hỏi ta thấy Thích Minh người này thế nào.
"Nhà họ Thích gửi thiệp dạm ngõ tới, nói Thích Minh đã gửi thư về cho họ, trong thư khen con lên tận mây xanh."
"Nhà họ Thích nói, nếu con nguyện ý, vài ngày nữa sẽ mang sính lễ tới tận cửa."
Bị mẫu thân nhìn chằm chằm, ta vội cúi đầu, che đi vành tai đang đỏ ửng.
Nhỏ giọng đáp một câu: "Tất cả nghe theo sự sắp đặt của mẹ."
Mẫu thân cười toe toét: "Tốt tốt tốt, mẹ đi hồi âm đây."
Thích Minh về Nhạn Môn chuẩn bị sính lễ, trước khi đi đã để lại gánh hát đó ở kinh thành.
"Nàng muốn xem gì, cứ việc đến rạp hát mà chọn."
Chàng đứng bên xe ngựa, đôi mày cong cong: "Đợi ta chuẩn bị sính lễ xong, sẽ tới đón nàng."
Từ đó về sau, ta gần như ngày nào cũng vùi mình trong rạp hát.
Hôm nay xem "Trường Sinh Điện", ngày mai xem "Đào Hoa Phiến", tay cầm hạt dưa, xem đến là say sưa.
Cả phủ Ngự sử bận rộn chuyện hôn sự của trưởng tỷ, chỉ có góc nhỏ của ta là còn chút yên tĩnh.
Thế nhưng trưởng tỷ lại ngày một trầm mặc hơn.
Ta thường thấy tỷ ấy thêu khăn trùm đầu trong khuê phòng, kim vàng chỉ bạc, thêu được một nửa liền dừng lại, ngẩn người nhìn ra ngoài cửa sổ.
Có một lần ta vào, thấy đầu ngón tay tỷ ấy rỉ m/áu, mũi kim đ/âm thủng đầu ngón tay, tỷ ấy vậy mà hoàn toàn không hay biết.
"Trưởng tỷ?" Ta lấy khăn tay giúp tỷ ấy ấn ch/ặt vết thương, "Sao vậy?"
Tỷ ấy thấy là ta, ngẩn người hồi lâu mới thấp giọng nói.
"A Nhan, Thái tử chàng... dạo này đối với ta không còn mặn nồng như trước nữa."
Tay ta khựng lại.
"Chàng đến gặp ta, cũng thường nhìn ta đến xuất thần, cứ như đang nhìn một người khác thông qua ta vậy."
Giọng tỷ ấy r/un r/ẩy: "Ta nói chuyện với chàng, chàng cũng phải hồi lâu mới đáp. A Nhan, muội nói xem, có phải chàng căn bản không hề thích ta không?"
Lòng ta thắt lại, nhưng chỉ có thể an ủi: "Chắc là do việc triều chính bận rộn, Điện hạ mệt rồi. Trước đại hôn sự việc nhiều, trưởng tỷ đừng suy nghĩ nhiều."
Lời thì nói vậy, nhưng trong lòng ta cũng bất an một cách lạ thường.
Ít ngày sau, thư của Thích Minh tới.
Trong thư nói chàng đã trở về Nhạn Môn, phủ đệ đã sửa sang xong xuôi, không bao lâu nữa sẽ mang lễ vật lên phía Bắc.
Lại qua bảy ngày, đội ngũ sính lễ rầm rộ của nhà họ Thích xếp dài từ đông thành đến trước cửa phủ Ngự sử.
Hộp quà gỗ tử đàn, gấm vóc bọc lụa, mười dặm hồng trang, khiến cả kinh thành người người chen chúc ngoài phố xem náo nhiệt.
Ai cũng biết nhị tiểu thư nhà Ngự sử đã đính hôn với công tử nhà họ Thích ở Nhạn Môn.
Tiếng bàn tán lọt vào trong phủ, ta đứng dưới hành lang, nhìn Thích Minh đứng trước đội ngũ, trên mặt cũng là ý cười không thể kiềm chế.
Đêm đó, ta vừa thổi tắt nến nằm xuống, khung cửa sổ liền truyền đến một tiếng động khẽ.
Ánh trăng xuyên qua giấy cửa sổ, in lên một bóng hình cao lớn lạnh lùng.
Ta gi/ật mình ngồi dậy, chỉ thấy Cố Thanh Yến chẳng biết đã đứng bên giường từ lúc nào.
Bộ trường bào màu đen huyền gần như hòa làm một với màn đêm, duy chỉ có đôi mắt sáng đến đ/áng s/ợ, chằm chằm nhìn ta.
"Nàng muốn gả cho người khác?"
Giọng chàng đ/è cực thấp, nhưng lại bao bọc lấy sự lạnh lẽo không thể kiềm chế.
Ta không biết vì sao chàng lại hỏi vậy, tim đ/ập thình thịch: "Phải."
"Ai cho phép nàng gả!"
Chàng đột nhiên tiến lên một bước, các đ/ốt ngón tay buông thõng bên người siết ch/ặt đến trắng bệch: "Thái tử phi của ta là Trường Nhân, nhưng điều đó không có nghĩa là nàng không thể ở lại kinh thành."
Ta ngẩn người, nhất thời không phân biệt được chàng là s/ay rư/ợu hay là đi/ên rồi.
Chàng nhìn chằm chằm gương mặt ta, yết hầu chuyển động: "Khoảng thời gian này, ta đã suy nghĩ rất nhiều, ta đối với nàng không phải hoàn toàn không có tình ý. Nếu nàng nguyện ý, ta có thể cưới nàng làm trắc phi."
Không khí đột nhiên đông cứng.
Ta nhìn chàng với vẻ khó tin.
Hình ảnh kiếp trước bị chàng bóp cổ chất vấn "Tại sao lại là nàng" chồng chéo lên thần thái ban ơn cao cao tại thượng lúc này của chàng, khiến dạ dày ta một trận cuộn trào.