Một ông lão đã ngoài sáu mươi tuổi, chỉ vài bước đi mà khí thế như cầu vồng. Tôi "bộp" một cái quỳ rạp xuống, đầu chạm đất:
"Tổng binh đại nhân! Bảo thuyền đã nhổ neo thành công, tôi, tôi có thể xuống tàu được chưa ạ?"
Tôi thầm nghĩ:
Không cần khách sáo đâu!
Cứ sắp xếp một chiếc thuyền nhỏ, đưa tôi vào bờ là được rồi.
Nếu ngài cảm thấy áy náy, thì thưởng cho tôi hai thỏi vàng cũng không sao.
Giá vàng bây giờ đắt c/ắt cổ!
Tôi đang tính toán xem làm thế nào để mang vàng theo khi xuyên không trở về. Bỗng nhiên, một đôi bàn tay to lớn, mạnh mẽ đỡ tôi dậy. Nhìn gần vào vị trí người khổng lồ trong lịch sử hàng hải Hoa Hạ này, tôi thấy ông có đôi lông mày rậm, hốc mắt sâu, ngũ quan cương nghị. Dù đã ở tuổi lục tuần, trong đáy mắt ông vẫn toát lên ánh nhìn sắc bén.
Sau khi đá/nh giá tôi một lượt, ông bất ngờ cười hiền từ:
"Tiên cô đã từ biển tới, chắc hẳn là tu luyện ở một tiên đảo nào đó. Trịnh mỗ vừa hay có thể tiễn tiên cô một đoạn."
Nụ cười của tôi vụt tắt:
"Hả?"
Chuyện này rõ ràng là có bẫy!
Tôi vội vàng từ chối khéo:
"Không cần đâu, không cần đâu, tôi tự về là được rồi!"
Trịnh Hòa nắm lấy tay tôi, hào sảng nói:
"Ấy, tiên cô không cần khách sáo. Người đâu, mời tiên cô lên Thiên Phi Các ở tầng ba an nghỉ, chăm sóc chu đáo, không được phép chậm trễ!"
Tôi sợ đến mức chân tay bủn rủn, giọng nói cũng r/un r/ẩy:
"Thật sự không cần đâu! Tôi, tôi hơi say sóng!"
Trịnh Hòa ngẩn người một chút, sau đó lập tức lấy lại vẻ mặt tươi cười, nụ cười nửa chính nửa tà:
"Khụ khụ! Người đâu, tiên cô pháp lực đã cạn kiệt, cần tĩnh dưỡng, mau mời lên đó!"
Sau này tôi mới biết, hóa ra tất cả đều đã được tính toán từ lâu.
Tháng 3 năm 1431, Bảo thuyền của Trịnh Hòa nhổ neo từ Lưu Gia Cảng tiến về phía Nam. Lịch sử ghi chép rằng, sau khi rời Lưu Gia Cảng, Trịnh Hòa đã đến Trường Lạc, Phúc Kiến để dừng chân, thực hiện đợt tập kết cuối cùng cho hạm đội. Ông đã ở lại Trường Lạc gần mười tháng.
Cho đến khi mùa đông lạnh giá, gió mùa Đông Bắc thổi lên, hạm đội siêu cấp này mới xuôi theo gió mùa tiến về phía Tây Dương.
Nhưng tôi luôn cảm thấy chuyến ra khơi lần này của Trịnh Hòa mang theo một nhiệm vụ bí mật nào đó. Vì tôi được sắp xếp ở Thiên Phi Các, ngay dưới căn phòng của Trịnh Hòa, nên nửa đêm tôi thường xuyên nghe thấy những tiếng bước chân cố tình nhẹ lại ở tầng trên.
Lén lút, vụng tr/ộm, đều là những tâm phúc của ông ta.
Hàng trăm năm qua, hậu thế đã có những kết luận rất toàn diện về mục đích bảy lần hạ Tây Dương của Trịnh Hòa: Chính trị, quân sự, kinh tế —
Nói cho cùng, việc Trịnh Hòa hạ Tây Dương căn bản không phải là "buôn b/án lỗ vốn" như lời các văn quan viết. Thậm chí, đây là khoản thu chi thương mại quốc tế quan trọng nhất của hoàng gia Đại Minh. Nhưng đối với một quốc gia quyền lực lục địa đã tồn tại hai ngàn năm, quyền kiểm soát biển vừa là cám dỗ, vừa là mối đe dọa. Đặc biệt đối với tầng lớp địa chủ, sự trỗi dậy của quyền lực biển đồng nghĩa với việc họ không thể dựa vào việc đ/ộc chiếm đất đai để hưởng vinh hoa phú quý đời đời kiếp kiếp nữa.
Vì thế, lệnh cấm biển của nhà Minh dường như là định mệnh tất yếu. Nhưng sự dừng lại đột ngột của vận tải biển cũng khiến Hoa Hạ bỏ lỡ một cách hoàn hảo kỷ nguyên Đại Hàng Hải. Kết cục của việc mất quyền kiểm soát biển chính là vài trăm năm sau, bị người phương Tây vượt biển đến đá/nh cho tơi bời hoa lá.
Hoàn toàn ứng với câu nói:
Tổ tông không chịu phấn đấu, con cháu chịu đò/n đ/au.
Nhưng những điều này chẳng liên quan gì đến Trịnh Hòa, dù sao ông ta cũng chỉ là một thái giám biết nghe lời, là nanh vuốt của hoàng đế. Quyền lực hoàng gia thời phong kiến sẽ không bao giờ ưu tiên vấn đề vận mệnh quốc gia, họ chỉ biết dùng mọi th/ủ đo/ạn để bảo vệ ngai vàng của mình.
Vì thế tôi đoán:
Nhiệm vụ bí mật của ông ta là — tìm ki/ếm Kiến Văn Đế và hậu duệ của ông ta.
Không ngờ dã sử nói lại là thật!
Đặc biệt là sau khi đến Trường Lạc, tôi, một "tiên cô", gần như trở thành cố vấn hàng hải của ông ta — chở bao nhiêu hàng, chất hàng thế nào, ông ta đều tỏ vẻ khiêm tốn thỉnh giáo. Nhưng tôi có thể nhận ra, ánh mắt ông ta nhìn tôi rõ ràng là có ý đồ khác.
Tôi nhiều lần tìm cơ hội muốn trốn xuống tàu nhưng đều bị người ta "mời" trở lại. Kỳ lạ là – Trịnh Hòa dường như không định gi*t tôi. Ông ta giữ tôi bên cạnh, còn đưa một bản thảo cho tôi xem.
"Lưu cô cô, cô xem lão phu viết thế nào?"
Tôi cầm lấy xem:
"Từ năm Vĩnh Lạc thứ ba phụng chiếu đi Tây Dương, đến nay là năm Tuyên Đức thứ sáu, đã bảy lần liên tiếp...
Băng qua biển cả mười vạn dặm, nhìn sóng kình chạm trời, mênh mông vô tận..."
Đó chính là tấm bia "Thiên Phi Linh Ứng Chi Ký Bi" trong truyền thuyết. Ở Thiên Phi Cung tại Lưu Gia Cảng cũng có một tấm bia như vậy. Tôi chơi ở đó từ nhỏ, gần như đã thuộc lòng. Hậu thế dựa vào văn bia này mà quảng bá ông lão này thành một nhà hàng hải vĩ đại. Đâu ai biết mục đích thực sự của chuyến đi này, thực chất là một cuộc thanh trừng đẫm m/áu.
Đối diện với ánh mắt sắc như chim ưng của ông lão, tim tôi đ/ập thình thịch:
"Tổng binh đại nhân đúng là Văn Khúc Tinh giáng trần!"
Mười tháng sau, hạm đội chính thức khởi hành. Hạm đội này bản chất là một đội quân trưởng thành. Hai trăm con tàu viễn dương, hơn hai mươi bảy ngàn người, có quan binh, thương đội, đội y tế, cùng đội hoa tiêu có kinh nghiệm vô cùng phong phú. Mọi người phân công rõ ràng, ai nấy làm tốt chức trách của mình. Dù sao đây cũng đã là lần thứ bảy hạ Tây Dương, kinh nghiệm của nhóm người cổ đại này phong phú hơn nhiều so với một điều độ viên chưa từng ra biển như tôi.
Hạm đội lấy Bảo thuyền làm cốt lõi, xuôi theo gió mùa Đông Bắc tiến về phía Nam. Suốt dọc đường băng qua eo biển Đài Loan, tiến vào luồng hàng hải chính của Biển Đông. Nửa năm sau, hạm đội băng qua eo biển Malacca, vượt vịnh Bengal, tiến vào phía Bắc Ấn Độ Dương.