Có người nhớ vợ con, nên dặn dò đội vận chuyển gửi thư về nhà.

Có người sợ gia đình lo lắng, cũng lải nhải không dứt.

Nghe mà tôi chỉ muốn đá/nh người:

"Có phải là không quay về nữa đâu? Có cần thiết thế không!"

Bà đây đã xuyên không hai ba năm rồi mà còn chưa tìm được đường về nhà đây này!

Nhưng nhìn sang Thích Trường Phong, anh ta đang đứng bên bờ cát, vẻ mặt cô đơn.

Tôi tiến lại gần:

"Gh/en tị đến mức này sao? Vậy thì viết một lá thư cho mẹ anh đi."

Anh ta không trừng mắt nhìn tôi như mọi khi, mà lặng lẽ cúi đầu.

Tôi vỗ vai anh ta:

"Lần này anh làm nên chuyện lớn rồi, ba triệu lượng bạc đấy."

Anh ta cười khổ:

"Cũng không biết mẹ có còn chịu nhận đứa con trai này nữa không."

Tôi không biết Vương thị thực sự trong lịch sử là người phụ nữ như thế nào, tên của bà thậm chí còn không được ghi lại trong sử sách.

Nhưng tôi nhớ, sử sách ghi rằng:

Người phụ nữ kiên cường này sau khi đứa con nuôi "ch*t", tinh thần suy sụp, cuối cùng đoạn tuyệt mọi qu/an h/ệ với nhà họ Thích.

Bà cũng vì thế mà trở thành người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử "hưu" chồng.

Tôi khẽ nói:

"Bà ấy đã liều mạng giữ cửa thành ở Th/ai Châu như vậy, chắc chắn cũng là không muốn để con trai mình ch*t đi."

Thích Trường Phong sững sờ hồi lâu.

Cho đến khoảnh khắc trước khi con Lão Lưu khởi hành, anh mới vội vàng chạy xuống tàu, nhét một lá thư vào tay người lão binh đáng tin cậy.

"Nói với mẹ tôi, sau khi lên bờ tôi sẽ đi thăm bà!"

Con Lão Lưu thẳng tiến đến đảo Đại Loan — đảo Đài Loan.

Đài Loan thời bấy giờ là vùng đất vô chủ, hoang dã, hỗn lo/ạn.

Ngoài thổ dân ra, chỉ có một đám buôn lậu, hải tặc và giặc Oa.

Chúng tôi định trốn ở đây một thời gian, để người Tây Ban Nha dồn sự chú ý vào mấy tên đầu sỏ hải tặc nổi tiếng kia.

Đợi qua cơn sóng gió rồi mới quay về Chương Châu.

Nhưng khi chúng tôi vượt qua màn sương đêm dày đặc để đổ bộ, cảnh tượng trước mắt khiến tôi bàng hoàng:

Trên bờ biển Đài Nam, vậy mà lại có pháo đài, chiến thuyền — là một cảng biển hoàn chỉnh!

Mà trên cảng còn treo đầy cờ đại kỳ chữ "Trịnh".

Thích Trường Phong kéo cánh tay tôi:

"Lưu Tiểu Mễ, sao chỗ này không giống như cô nói vậy?

Có phải chúng ta đi nhầm đường rồi không?"

Tôi lắc đầu.

Không thể nhầm được, Đài Loan tôi rành lắm.

Chúng tôi rẽ làn sương, đi thêm vài bước về phía cảng.

Phát hiện hàng vạn quân dân Đại Minh đang quỳ trên bãi cát, khóc lóc thảm thiết.

Tôi lập tức dừng bước, túm lấy một người lính hỏi:

"Đây là lúc nào rồi?!!"

Đối phương lau nước mắt m/ắng:

"Cô bị Thi Lang dọa cho ng/u người rồi à?!

Bây giờ là tháng tám năm Khang Hy thứ hai mươi hai!

Người Mãn sắp qua bắt chúng ta cạo đầu rồi!"

Chân tôi lảo đảo.

Tôi ngoái đầu nhìn đám quân Thích gia phía sau, lòng nặng trĩu ngàn cân!

Thích Trường Phong nhìn tôi, nhanh chóng hiểu ra.

Từ đảo Luzon đến đây, chúng tôi chỉ đi mất một ngày, nhưng thời gian đã xuyên không đến tận tám mươi tám năm sau.

Mãn Thanh nhập quan, Đại Minh đã mất rồi.

Hậu duệ của Trịnh Thành Công rút về Đài Loan.

Nhưng năm Khang Hy thứ hai mươi hai, Thủy sư Đề đốc của nhà Thanh là Thi Lang đã tiêu diệt hoàn toàn hạm đội của Minh Trịnh ở vịnh Bành Hồ.

Đốm lửa cuối cùng của người Hán Đại Minh sắp sửa lụi tàn.

Mà đám quân Thích gia phía sau tôi không bao giờ có thể lên bờ được nữa!

Ngày hôm qua họ còn tâm niệm về những đứa con, giờ đây có lẽ chúng đã qu/a đ/ời từ lâu rồi.

Tôi c/ăm h/ận bản thân mình luôn chậm hơn lịch sử một bước.

Nếu không vận ba triệu lượng bạc đó về làng chài, thì Đài Loan liệu có còn c/ứu được không?

Số tiền khổng lồ này có thể chiêu binh mãi mã, đá/nh bại Thi Lang.

Sau đó chúng ta có thể làm lại bài cũ, khai phá quyền làm chủ biển cả!

Nhưng Thích Trường Phong lại chấp nhận thực tại nhanh hơn tôi.

Anh dẫn đám quân Thích gia dập đầu ba cái về phía Đại Minh xưa kia.

Anh hiểu rõ, mọi thứ đã quá muộn.

Chúng tôi phải chạy trốn.

Nhưng đi đâu đây?

Bây giờ là tháng tám, toàn bộ Tây Thái Bình Dương đang có bão, ngay cả Thi Lang cũng phải hoãn kế hoạch tấn công.

Chúng tôi buộc phải tránh bão ở Đài Nam.

Hai tháng sau, quân Thanh sắp đổ bộ Đài Loan.

Đang lúc tôi không biết phải làm sao, Thích Trường Phong lại lấy ra một tấm hải đồ ố vàng.

Là một mảnh vỡ, rất thô sơ.

Ban đầu tôi không hiểu.

Anh nói:

"Đây là thứ được lưu truyền từ thời kỳ cấm biển của Đại Minh.

Có người dâng lên cho cha tôi, nhưng lúc đó không ai hiểu được.

Ai cũng tưởng là đồ giả.

Cho đến khi tôi nhặt được cô đang hôn mê trên bãi biển Chương Châu.

Tôi mới hiểu ra nó."

Tôi sững người, vẫn ngơ ngác nhìn anh.

Anh lặng lẽ xoay tấm bản đồ lại.

Tôi nhìn qua, tim bỗng hẫng một nhịp.

Phía sau hải đồ vẽ nửa chân dung:

Bộ quần áo liền thân màu trắng, tóc đuôi ngựa cao —

Tôi không kìm được vừa khóc vừa cười.

Vậy mà lại là tấm bản đồ thế giới mà Trịnh Hòa đã sao chép.

Mảnh vỡ vẽ phía Tây Thái Bình Dương, chạy dọc từ Bắc xuống Nam.

Thích Trường Phong chỉ vào vùng đất ở Nam b/án cầu, kiên định nói:

"Chúng ta đi đến đây, xây dựng một ngôi nhà mới."

Nước Úc bây giờ vẫn còn là vùng hoang dã.

Kế hoạch khả thi.

Nhưng tôi không biết, khi chúng tôi đến đó, thời không liệu có lại nhảy vọt nữa không?

Đột nhiên, trong lúc do dự, tôi lóe lên một tia hy vọng:

Nếu đi thuyền trên biển có thể gây ra nhảy vọt thời không, vậy có nghĩa là — một ngày nào đó tôi có thể đưa con Lão Lưu và quân Thích gia nhảy ngược về Lưu Gia Cảng năm 2026 không?

Có ý nghĩ này, tôi lập tức lấy lại tinh thần.

Nhổ neo căng buồm, đi đến Nam b/án cầu!

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm