Tháng mười, gió đông bắc bắt đầu thổi, thủy sư của Thi Lang cũng vượt eo biển Đài Loan mà tới.

Con tàu Lão Lưu thuận gió tiến về phía nam.

Giữa những con sóng khổng lồ của Thái Bình Dương, tôi luôn ghi nhớ lời Trịnh Hòa từng nói:

Đừng sợ, đằng sau những con sóng chính là bản thân mình!

Khi những con sóng cao hơn mười mét ập xuống đầu tàu, tôi dùng thắt lưng buộc ch/ặt tay mình vào bánh lái:

"Cưỡi gió rẽ sóng có lúc — ực —

Căng buồm vượt biển khơi — ực —"

Cho đến khi cuối cùng vượt từ Thái Bình Dương vào vùng lặng gió xích đạo, con tàu của chúng tôi hoàn toàn không thể di chuyển được nữa.

Ở đây ánh mặt trời gay gắt, không gió không sóng, mặt biển phẳng lặng như một tấm gương.

Con Lão Lưu hoàn toàn bị mắc kẹt.

Thích Trường Phong không chịu bỏ cuộc, anh dẫn theo các hán tử quân Thích gia chèo mái.

Con tàu như con kiến đang bò, nhưng tiếng hò reo vang vọng ngày này qua ngày khác.

Thích Trường Phong lấy tấm áo choàng phủ lên hai sợi dây cáp, dựng thành một cái lều tạm bợ phía trên bánh lái.

Ngày thứ năm, nước ngọt sắp cạn kiệt.

Tôi nằm vật trên boong tàu, kiệt sức, vô h/ồn nhìn chằm chằm vào tấm áo choàng.

Tiếng hò reo ở đuôi tàu đã không còn nghe thấy nữa, chỉ còn nghe tiếng "cót két" của mái chèo khua nước.

Đúng lúc tôi muốn nhắm mắt chìm vào giấc ngủ sâu, dải dây của tấm áo choàng bỗng bay lên.

Có gió rồi!

Tôi lập tức bật dậy, dồn chút sức lực cuối cùng gào lên:

"Căng hết buồm lên!"

Tiến vào đới gió tín phong nam b/án cầu, con Lão Lưu như lao lên đường cao tốc.

Nhưng khi chúng tôi lao vào Châu Đại Dương, nôn nóng muốn đổ bộ lên đảo nhỏ thì lại một lần nữa sa vào màn sương m/ù.

Những hòn đảo xung quanh ẩn hiện.

Tôi điều khiển bánh lái, cẩn thận tránh những rạn san hô và những hòn đảo đ/á hoang vu.

Đột nhiên, trong sương m/ù xuất hiện bóng dáng của một hòn đảo khổng lồ.

Kích thước đó hoàn toàn đủ để chúng tôi cập bến.

Tôi hào hứng điều chỉnh hướng đi, nhắm thẳng về phía đảo nhỏ tiến tới.

Nhưng khi con Lão Lưu lao ra khỏi sương m/ù, sắp cập bến "hòn đảo" ấy, tất cả mọi người suýt chút nữa ngất xỉu tại chỗ.

Tiếng gầm thét của Thích Trường Phong kéo tôi về thực tại:

"đá/nh hết lái trái!"

Tôi gi/ật b/ắn mình, nhanh chóng xoay bánh lái, đá/nh hết cỡ sang trái.

Vật khổng lồ trước mắt hoàn toàn không phải là đảo, mà là một chiến hạm hơi nước bằng thép khổng lồ đang phun ra những cột khói đen đặc!

Con Lão Lưu lướt qua con quái vật thép ngay trước mặt trong gang tấc.

Chỉ thấy trên tấm thép trước mắt lóe lên một dãy mã sơn trắng — HMTNo.51

Đây là con dấu thép của Bộ Chiến tranh Anh!

Mà dãy mã này tương ứng với — con tàu Great Britain!

Đây là con tàu bằng thép đầu tiên trên thế giới, cũng là tiền thân của những con tàu khổng lồ hiện đại.

Khi tôi đứng trên con Lão Lưu ngước nhìn con quái vật thép này, tôi cũng cảm nhận được sự chấn động từ một nền văn minh khác.

Đây là Đại Tây Dương năm 1860, thời gian đã nhảy vọt gần hai trăm năm.

Quân Thích gia trên tàu vẫn còn đang nghĩ đến việc phản Thanh phục Minh.

Nhưng họ đâu biết rằng, nhà Mãn Thanh lúc này vừa trải qua cuộc Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai, cũng sắp tiêu tùng rồi.

Tôi điều chỉnh hướng buồm, lao nhanh ra xa.

Nhưng chưa chạy được bao xa, con tàu trong lúc hoảng lo/ạn đã đ/âm thẳng vào rạn san hô.

"Ầm!" một tiếng, dưới đáy tàu truyền đến sự rung chuyển dữ dội.

Sau khi con Lão Lưu trôi ra xa một đoạn, thân tàu vẫn lắc lư không ngừng giữa những con sóng lớn.

Phải đợi thân tàu cân bằng trở lại mới có thể điều chỉnh buồm!

Tuy nhiên tốc độ lắc lư trái phải của thân tàu càng lúc càng chậm, nhưng biên độ lại càng lúc càng lớn.

Cả con tàu giống như một con lật đật bị hỏng, mỗi lần lắc lư trở về vị trí cân bằng đều trở nên nặng nề và kéo dài.

Tôi treo chiếc còi đồng của lão Lưu vào lòng bàn tay, nhìn nó lắc lư qua lại để tính toán thời gian — điểm cao nhất bên trái và bên phải vượt quá mười giây!

Điều đó có nghĩa là giá trị ổn định của con tàu đã vượt quá phạm vi an toàn.

Phải hạ trọng tâm xuống ngay lập tức.

Tôi nắm ch/ặt bánh lái, gào lên:

"Thích Trường Phong! Đẩy hết pháo Phật Lang Cơ xuống khoang đáy!"

Anh nhanh chóng dẫn quân Thích gia hành động.

Rất nhanh, sau khi trọng tâm con tàu hạ xuống, tốc độ trở về cân bằng nhanh hơn hẳn.

Nhưng chưa kịp ổn định hoàn toàn, tiếng pháo phía sau đã đuổi tới, mùi khói th/uốc sú/ng nồng nặc lan tỏa trên biển.

Con tàu Great Britain đã phản ứng lại.

Tuy nó chỉ là một con tàu vận tải khổng lồ, nhưng con Lão Lưu của chúng tôi trong mắt thời đại này trông kiểu gì cũng là tàu hải tặc.

Tôi cưỡng ép điều chỉnh buồm bẻ lái, cố gắng tránh xa tầm b/ắn của nó.

Nhưng rạn san hô dưới nước vượt quá trí tưởng tượng của tôi, tiếng cọ xát vang lên không dứt.

Sau khi con Lão Lưu "đào" được vài con sóng, lại rơi vào trạng thái lắc lư dữ dội.

Lần này còn quá quắt hơn, góc nghiêng của thân tàu vượt quá ba mươi độ, có thể bị lật úp bất cứ lúc nào!

Lúc này từ bên dưới truyền đến tiếng gọi của Thích Trường Phong:

"Khoang số bảy, số tám đang bị nước tràn vào!"

Đám người lần lượt xách xô xuống dưới để t/át nước.

Nhưng t/át nước thủ công không thể theo kịp tốc độ nước biển tràn vào.

Tôi nhổ một ngụm nước biển đắng chát, gào lên:

"Lập tức phong tỏa nước trong khoang cách ly!"

Các khoang kín nước dưới đáy tàu đều đ/ộc lập, hỏng một hai cái cũng không chìm tàu.

Vấn đề là chỗ nước biển tràn vào đó cứ lắc lư qua lại, phá hủy sự cân bằng ngang của thân tàu.

Quả nhiên, khi đám người phía dưới phong tỏa nước biển trong khoang kín, thân tàu vốn đang nghiêng nửa chừng lập tức bật trở lại.

Sau khi con tàu ổn định, để thoát khỏi "con rùa sắt" phía sau, tôi chỉ còn cách lái con Lão Lưu đ/âm đầu trở lại vào màn sương m/ù.

Chúng tôi trôi dạt trong sương m/ù, cho đến khi xung quanh hoàn toàn yên tĩnh.

Mọi người kiệt sức.

Tôi vừa đói vừa khát, nằm vật lên đùi Thích Trường Phong mà ngủ thiếp đi.

Không biết đã qua bao lâu, tiếng pháo lại vang lên.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm