Tòa án phong tỏa toàn bộ tài sản đứng tên anh, bao gồm cả căn hộ áp mái ở Lục Gia Chủy. Anh sống trong khách sạn hai tháng, cuối cùng dọn về căn hộ cũ nát từng thuê thời đại học – chính là kiểu nhà tập thể cũ không thang máy mà Tô Miên từng ở, nơi cầu thang chất đầy tủ giày và vại dưa muối của hàng xóm, trên tường dán đầy quảng cáo thông tắc cống.
Cuộc sống mỗi ngày của anh trở nên cực kỳ đơn giản: bảy giờ sáng thức dậy, chạy bộ ở công viên nhỏ gần đó, về nhà tắm rửa, rồi mở máy tính xem thông tin bất động sản và bảng xếp hạng trường học ở Perth. Anh tra c/ứu tất cả các trường tiểu học và trung học tốt nhất ở Perth, vẽ phạm vi khu vực tuyển sinh của từng trường lên bản đồ, đá/nh dấu các tuyến xe buýt và vị trí siêu thị. Anh tìm hiểu về thời tiết, vật giá, chính sách nhập cư và sự phân bố của cộng đồng người Hoa tại Perth.
Anh còn tra c/ứu một cái tên: Tô Niệm.
Anh không biết Tô Niệm học trường nào, nhưng trong các hội nhóm mẹ bỉm sữa người Hoa ở Perth, có một cái tên thường xuyên được nhắc đến – “Đứa nhỏ đến từ Trung Quốc đó, tiếng Anh tiến bộ siêu nhanh, toán học cực kỳ giỏi, tuần trước cậu bé giành giải nhất trong triển lãm khoa học, dùng AI tái hiện toàn bộ quá trình tuyệt chủng của khủng long, khiến ban giám khảo sững sờ.”
Khi Lục Tư Yến nhìn thấy dòng chữ “toàn bộ quá trình tuyệt chủng của khủng long”, cổ họng anh như bị thứ gì đó chặn đứng. Anh nhớ lại khi mình năm tuổi, việc yêu thích nhất là đi gõ cửa từng nhà mượn tạp chí “Khủng long”, rồi tự nh/ốt mình trong phòng vẽ bộ xươ/ng khủng long. Cha anh khi đó còn sống, nhìn thấy bức vẽ khủng long ba sừng của anh đã nói một câu: “Đứa trẻ này tương lai hoặc là thiên tài, hoặc là kẻ đi/ên.”
Vào ngày Tô Niệm tham gia triển lãm khoa học, không hiểu sao Lục Tư Yến lại m/ua một tấm vé máy bay đi Perth.
Anh không xuất cảnh.
Anh cầm tấm vé đó, ngồi trong phòng chờ thương gia ở sân bay suốt cả ngày, nhìn trạng thái chuyến bay trên màn hình từ “Đúng giờ” thành “Đang lên máy bay” rồi lại thành “Cất cánh”, rồi dần dần biến thành “Đã hạ cánh”.
Anh không thể lên chuyến bay đó.
Không phải vì vấn đề visa, không phải vì không m/ua nổi vé – dù tài sản bị phong tỏa, nhưng số tiền bạn bè cho mượn đủ để anh bay đến Perth mười lần. Anh không thể lên máy bay vì khi ngồi trong phòng chờ, anh chợt nhớ đến câu nói của Tô Miên trong đêm chung kết: “Anh không tìm. Anh chưa bao giờ tìm ki/ếm.”
Anh đã từng tìm.
Anh bỏ ra số tiền lớn thuê thám tử tư, tra c/ứu mạng xã hội, lịch sử tiêu dùng, các mối qu/an h/ệ xã hội của Tô Miên. Anh tìm thấy địa chỉ nhà cô ở Perth, nơi làm việc của cô, trường học của Tô Niệm.
Nhưng anh chợt nhận ra một điều: anh tìm ki/ếm cái tên “Tô Miên” và “Tô Niệm”, chứ không phải tìm chính con người họ. Anh muốn tìm thấy họ, rồi sao nữa? Rồi xuất hiện trước cửa nhà họ, nói “Anh đến đón các em về nhà”? Anh dùng tư cách gì? Một người chồng cũ bị cả mạng xã hội phỉ nhổ? Một kẻ mất uy tín đang bị điều tra hình sự? Một người con trai đến mẹ mình cũng không bảo vệ nổi?
Anh lấy tư cách gì để đứng trước mặt Tô Niệm?
Tấm vé máy bay đó cuối cùng bị hủy bỏ. Anh rời sân bay, bắt taxi về căn hộ cũ nát kia.
Đèn ở cầu thang bị hỏng, anh mò mẫm leo lên tầng sáu, khi cúi xuống thay giày trước cửa, anh chạm phải một tờ giấy dưới đất. Cầm lên thấy giống như một bức tranh, anh bật đèn pin điện thoại soi thử thì sững sờ.
Đó là một bức tranh vẽ bằng bút sáp màu. Trên đó có ba người – một người phụ nữ mặc váy, một đứa trẻ mặc áo xanh, và một người đàn ông mặc vest đen. Nhưng khuôn mặt của người đàn ông đó bị tô đen thành một khối, không nhìn thấy bất kỳ ngũ quan nào.
Mặt sau bức tranh viết nguệch ngoạc hai dòng chữ. Dòng thứ nhất là “Mẹ ơi, chú này là kẻ x/ấu ạ?”, dòng thứ hai là nét chữ khác trả lời: “Không phải kẻ x/ấu, chỉ là đã làm sai chuyện thôi.” Dòng thứ ba là nét chữ nguệch ngoạc kia viết thêm một câu: “Vậy chú ấy đã xin lỗi chưa ạ?”, dòng thứ tư là câu trả lời: “Đã xin lỗi rồi. Nhưng có những cánh cửa đã đóng lại, thì đừng gõ nữa.”
Dòng thứ năm là câu cuối cùng do nét chữ nguệch ngoạc kia viết, nét chữ mạnh hơn những dòng trước, như thể đã do dự rất lâu mới viết xuống:
“Vậy con để bức tranh ở trước cửa, nếu chú ấy đến gõ cửa, chú ấy sẽ thấy.”
Người ký tên là “Niệm Niệm”.
Lục Tư Yến không biết bức tranh này xuất hiện ở đây như thế nào. Anh không biết mẹ con Tô Miên đã về nước khi nào, cũng không biết làm sao họ biết anh ở đâu. Có lẽ sau khi Tô Niệm vẽ xong, Tô Miên đã nhờ người mang đến tận cửa. Có lẽ chỉ là một người hàng xóm quen biết anh thấy tin tức trên mạng, cảm thấy anh đáng thương nên giúp chuyển giao.
Anh nắm ch/ặt bức tranh, ngồi xổm trong hành lang tối om, khóc đến toàn thân r/un r/ẩy.
Đèn cảm ứng ở tầng sáu được tiếng khóc của anh làm cho sáng rực.
Ánh đèn trắng dã chiếu lên những vệt nước mắt trên mặt anh, chiếu lên vại dưa muối dưới đất và bức tranh bị bôi đen khuôn mặt kia.
Anh khóc rất lâu, lâu đến mức đèn cảm ứng tắt rồi lại sáng, sáng rồi lại tắt, lặp đi lặp lại rất nhiều lần.
Cuối cùng anh đứng dậy, cẩn thận kẹp bức tranh vào một cuốn sách, mở cửa, vào nhà, tắt đèn.
Anh không còn tra c/ứu địa chỉ của Tô Miên nữa.