“Không.” Anh nói.
“Dolma, không.” Anh nắm ch/ặt lấy tay tôi, ch/ặt đến mức các khớp xươ/ng trắng bệch, “Anh không ly hôn, Dolma, anh không ly hôn, anh biết mình sai rồi, em cho anh cơ hội, anh nhất định sẽ sửa đổi, anh thề…”
“Anh đã từng thề bằng danh nghĩa của người cha đã khuất rồi.”
Miệng anh há hốc, lời nói nghẹn lại nơi cổ họng.
“Anh nói sau này nhất định sẽ đặt em lên vị trí ưu tiên, anh nói lần này là thật, anh nói sẽ không bao giờ như thế nữa.”
Tôi gỡ từng ngón tay anh ra.
“Nhưng lần trước anh cũng nói như vậy.”
Anh quỳ trên mặt đất, như một bức tượng Phật sụp đổ.
Chiếc áo cà sa đỏ thẫm sớm đã được thay bằng áo bào Tạng, nhưng anh vẫn giữ thói quen năm nào, trên cổ tay quấn một chuỗi hạt bồ đề mắt phượng, mười tám hạt, mỗi hạt đều đã lên nước bóng loáng.
Lúc này, chuỗi hạt Phật ấy rũ xuống đất, những hạt chuỗi khẽ va vào nền gạch.
“Anh không ly hôn.” Anh lắc đầu, như một đứa trẻ vô lý, “Dolma, anh không ly hôn, em là vợ anh, cả đời này đều là, anh sẽ không ký tên đâu.”
Tôi không nói thêm lời nào.
Đứng dậy, đẩy cửa phòng nghỉ rồi bước ra ngoài.
Phía sau truyền đến tiếng khóc của anh.
Tiếng khóc rất thấp, rất trầm, như một con thú bị thương, nức nở, kìm nén, phát ra từ tận sâu trong cổ họng.
Ánh đèn huỳnh quang trong hành lang vẫn kêu vo vo.
Tôi đi đến trạm y tá, mượn giấy và bút.
Viết hai dòng chữ trên bàn trực.
Sau đó đi đến trước xe của Kỳ M/ộ Hàn, kẹp mảnh giấy dưới cần gạt nước.
Trên mảnh giấy viết rằng:
“Luật sư sẽ liên lạc với anh, chuyện của bà, chúng ta gặp nhau ở tòa.”
Gió đêm trên thảo nguyên rất lớn.
Tôi quấn ch/ặt áo bào, đi về phía cổng b/ệnh viện.
Có người đuổi theo phía sau.
Tiếng bước chân rất vội vã, giày da gõ xuống mặt đất, lạch cạch lạch cạch.
“Dolma!”
Tôi không dừng lại.
“Dolma, em đứng lại đó!”
Anh đuổi kịp, túm lấy cánh tay tôi.
“Em không được đi, Dolma, em không được làm vậy, em cho anh thời gian…”
Tôi quay đầu nhìn anh.
Gió đêm thổi tung mái tóc anh, đôi mắt đỏ ngầu như con thỏ, nước mắt bị gió thổi đầy mặt.
Thật khó coi.
Vị Phật tử trên núi tuyết, chưa bao giờ trông khó coi đến thế.
“Buông tay.” Tôi nói.
“Anh không buông!”
“Buông tay.” Tôi nhìn vào mắt anh, “Kỳ M/ộ Hàn, anh buông tay ra.”
Anh nhìn tôi, như thể đang tìm ki/ếm thứ gì đó.
Tìm ki/ếm cô gái Sangji Dolma yêu anh.
Tìm ki/ếm người vợ sẽ tha thứ cho anh chỉ cần anh nói một câu “xin lỗi”.
Tìm ki/ếm cô gái đã ng/u ngốc suốt năm năm trời.
Anh không tìm thấy.
Những ngón tay anh chậm rãi nới lỏng.
Tôi quay người bước đi.
Phía sau truyền đến tiếng gọi của anh, rất to, rất khàn, như đang gọi, cũng như đang gào thét.
“Dolma…”
Gió đêm thổi tan âm thanh ấy.
Đêm trên thảo nguyên rất tối, không có trăng, những vì sao dày đặc phủ kín cả bầu trời.
Tôi nhớ đến lúc nhỏ, mẹ chỉ vào những vì sao trên trời bảo tôi rằng, Dolma nhìn xem, ngôi sao sáng nhất kia là sao Bắc Đẩu, nếu mẹ không tìm thấy đường về nhà, con cứ đi theo sao Bắc Đẩu là được.
Bây giờ mẹ không cần tìm đường về nhà nữa.
Mẹ đã lên thiên đàng rồi.
Tôi ngẩng đầu nhìn bầu trời đầy sao, mắt khô khốc đến lạ.
Không có nước mắt.
Một giọt cũng không.
Thì ra khi con người ta đ/au đớn nhất, thật sự là không thể khóc được.
Tôi cứ đi mãi, không biết đã đi bao lâu, đi đến tận rìa thị trấn.
Phía trước là một cánh đồng cỏ, tối om, gió thổi từ phía xa đến, mang theo mùi cỏ xanh và mùi đất.
Tôi đứng bên vệ đường, lấy điện thoại ra.
Tìm thấy một số điện thoại trong danh bạ.
Ghi chú là “Luật sư Trát Tây (Tashi)”.
Năm ngoái anh ấy đi ngang qua thảo nguyên, tá túc một đêm ở nhà bà, lúc đi đã để lại cho tôi tấm danh thiếp, bảo rằng chị dâu sau này có việc gì cứ tìm em, miễn phí.
Lúc đó tôi cứ nghĩ cả đời này mình sẽ không bao giờ dùng đến.
Tôi gọi cho anh ấy.
Chuông reo ba tiếng, anh ấy bắt máy.
“Trát Tây.”
“Chị dâu? Đêm hôm rồi, có chuyện gì vậy ạ?”
“Chị muốn ly hôn.” Tôi nói, “Còn muốn kiện một vụ nữa. Em có nhận không?”
Đầu dây bên kia im lặng hai giây.
“Nhận.”
“Ngày mai chị sẽ đến tìm em.”
“Vâng.”
Cúp điện thoại, tôi đứng bên vệ đường, gió lùa vào cổ áo, lạnh thấu xươ/ng.
Phía xa có tiếng sói hú, ư ử, nghe như đang khóc.
Lại như đang cười.
Tôi chợt nhớ đến dáng vẻ bà ngồi trên bậc cửa xoay kinh luân.
Khi kinh luân xoay, tiếng chuông đồng sẽ vang lên, leng keng, như tiếng mưa rơi.
Lúc nhỏ tôi nằm bò trên đầu gối bà, hỏi bà đang niệm gì.
Bà xoa đầu tôi, nói: “Niệm kinh chứ gì, cầu cho Dolma nhà ta bình an, sống lâu trăm tuổi.”
Nước mắt đột nhiên trào ra.
Không tiếng động, không gào thét, chỉ là lặng lẽ chảy xuống.
Ấm nóng, chảy qua khuôn mặt đã bị gió thổi lạnh ngắt, chảy xuống cằm, nhỏ xuống đất.
Từng giọt, từng giọt, lại từng giọt.
Giống như muốn trút hết nước mắt tích tụ suốt năm năm qua trong một lần.
Tôi ngồi xổm bên vệ đường, hai tay che mặt, tiếng khóc nghẹn lại trong lòng bàn tay, âm ỉ.
Cơn gió ập đến từ phía sau, đẩy tôi, đẩy tôi vào sâu trong thảo nguyên.
Phía xa truyền đến tiếng vó ngựa.
Lạch cạch lạch cạch, từ xa tiến lại gần.
Có người đang cưỡi ngựa từ trên thảo nguyên đi tới.
Tôi không ngẩng đầu.
Tiếng vó ngựa dừng lại trước mặt tôi.
Một giọng nói già nua hỏi: “Có phải là Dolma nhà Sangji không?”
Tôi ngẩng đầu lên, trong làn nước mắt nhòe đi, tôi nhìn thấy một khuôn mặt đầy nếp nhăn.
Là mẹ Wangmu ở chiếc lều bên cạnh.