“Là con.” Tôi nói.
Bà Wangmu xuống ngựa, r/un r/ẩy đi đến trước mặt tôi, cúi người nhìn tôi.
“Chuyện của bà nội cháu, ta nghe rồi.” Giọng bà rất khẽ, như gió thổi qua những hạt cát.
Tôi gật đầu.
Bà Wangmu không nói gì, đưa tay ấn đầu tôi vào vai bà.
Tay bà rất thô ráp, như vỏ cây.
Nhưng bàn tay đang ấn đầu tôi ấy, lại rất ấm.
“Khóc đi.” Bà nói, “Trước mặt bà, có thể khóc mà.”
Tôi vùi mặt vào vai bà Wangmu, cuối cùng cũng bật khóc thành tiếng.
Khóc nức nở.
Khóc như hồi nhỏ mỗi khi bị ngã, được mẹ ôm vào lòng vậy.
Gió thổi ù ù trên thảo nguyên.
Tiếng sói hú phía xa đã dứt.
Những vì sao sáng rực dày đặc.
Tôi nhớ đến cái nhìn cuối cùng của bà nội dành cho mình.
Đôi môi mấp máy, chẳng nói được lời nào.
Bà muốn nói gì nhỉ?
Là bảo tôi phải sống cho tốt, hay bảo tôi phải b/áo th/ù cho bà?
Tôi không biết.
Nhưng tôi biết, từ giây phút này trở đi, Sangji Dolma sẽ không khóc nữa.
Đây là lần cuối cùng.
Bà Wangmu vỗ nhẹ lên lưng tôi, như dỗ dành một đứa trẻ, một cái, một cái, lại một cái nữa.
“Đứa trẻ ngoan, không sao rồi, không sao rồi.”
Bà nói.
Tôi ngẩng đầu, lau nước mắt.
“Bà Wangmu, con phải đi rồi.”
“Đi đâu?”
“Lhasa.”
“Đến Lhasa làm gì?”
Tôi nhìn cánh đồng cỏ tối om phía xa, gió thổi từ hướng đó tới, mang theo cái lạnh của núi tuyết.
“Quy y.”
Sáng sớm ở Lhasa mang một màu xanh lam.
Không phải màu xanh của bầu trời, mà là màu xanh của khói hương quyện với ánh bình minh, nhàn nhạt, như thể người ta ngh/iền n/át cả một phiến đ/á lapis lazuli thành bột rồi rắc vào không trung.
Tôi đứng trước cổng chùa Đại Chiêu (Jokhang), tay xách một cái tay nải nhỏ.
Trong tay nải chỉ có hai thứ… tro cốt của mẹ, chiếc kinh luân của bà nội.
Tiếng chuông đồng leng keng, như thể bà vẫn đang xoay kinh luân.
Cành bách đ/ốt làm hương (sang) bắt đầu ch/áy, khói trắng bay lên không trung rồi bị gió sớm thổi tan. Những người lạy dài (lạy ngũ thể đầu địa) nối tiếp nhau, tiếng thân thể đ/ập xuống phiến đ/á nghe trầm đục, từng tiếng một, như nhịp đ/ập của trái đất.
Tôi đứng trong đám đông, nhìn những bóng người đang phủ phục.
Một ngày nào đó, tôi cũng sẽ trở thành một trong số họ.
Không, không đúng.
Tôi sẽ triệt để hơn họ.
Thứ họ cầu là công đức một đời, thứ tôi cầu là sự lãng quên một kiếp.
Điện thoại rung lên.
Tin nhắn của Trát Tây (Tashi): “Chị dâu, phía Kỳ M/ộ Hàn đã nhận được thư luật sư rồi, anh ta từ chối ký.”
Tôi không trả lời.
Điện thoại lại rung một cái nữa: “Anh ta còn nói, chị muốn ly hôn cũng được, anh ta không cần tiền, không cần gì cả, chỉ cần gặp chị một lần thôi.”
Tôi vẫn không trả lời.
Khóa màn hình, nhét điện thoại xuống đáy túi.
Cổng chùa Đại Chiêu mở ra.
Các vị lạt m/a bắt đầu quét sân.
Tôi xách tay nải bước vào trong, đi đến trước bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni 12 tuổi.
Bức tượng Phật màu vàng, cao lớn, uy nghiêm, đôi mắt rủ xuống, nhìn thấu từng người quỳ dưới chân mình.
Tôi cũng quỳ xuống.
Trán áp sát vào mặt đất lạnh lẽo.
Rất lạnh.
Lạnh hơn cả gió trên núi tuyết.
“Phật tổ.” Tôi nói trong lòng, “Sangji Dolma đến trả nguyện đây.”
Năm năm trước, tôi từng cầu nguyện trước bức tượng Phật này.
Khi đó Kỳ M/ộ Hàn vừa hoàn tục, tôi vừa cưới anh, trong lòng trong mắt đều là vui mừng.
Tôi quỳ ở đây, cầu Phật tổ phù hộ chúng tôi bạc đầu giai lão, mãi mãi đồng tâm.
Phật tổ không đáp.
Giờ tôi đến trả nguyện.
Không cầu bạc đầu, không cầu đồng tâm.
Chỉ cầu một bộ cà sa, một ngọn đèn xanh, sống nốt quãng đời còn lại là đủ.
Phía sau truyền đến tiếng bước chân, rất nhẹ, là tiếng chân trần giẫm trên phiến đ/á.
“Thí chủ.”
Tôi ngẩng đầu, nhìn thấy một vị lạt m/a trẻ tuổi, chừng mười lăm mười sáu tuổi, đôi mắt sáng ngời, như mặt hồ ở phía Bắc Tây Tạng.
“Rinpoche mời người qua đó.”
Rinpoche.
Lobsang Rinpoche của chùa Ganden, một trong những bậc thượng sư đức cao vọng trọng nhất toàn vùng Tạng.
Cũng là sư phụ của Kỳ M/ộ Hàn.
Năm đó chính ông là người đích thân cử hành đại lễ ngồi giường (tọa sàng) cho Kỳ M/ộ Hàn, công nhận anh là hóa thân Phật sống.
Sau này Kỳ M/ộ Hàn hoàn tục, ông không nói một lời nào.
Sau đó nữa, khi tôi cưới Kỳ M/ộ Hàn, ông nhờ người gửi tặng một chiếc khăn Hada và một túi nghệ tây.
Tôi không biết tại sao ông lại muốn gặp mình.
Nhưng tôi đứng dậy, đi theo vị lạt m/a nhỏ vào trong.
Cuối cùng dừng lại trước một căn phòng nhỏ.
Vị lạt m/a nhỏ đẩy cửa, nghiêng người cho tôi vào.
Căn phòng rất nhỏ, một chiếc giường, một cái bàn, trên bàn đặt một bức tượng Phật bằng đồng, trước Phật cúng một bát nước trong.
Lobsang Rinpoche ngồi trên giường, khoác một tấm cà sa cũ, trên đầu gối mở sẵn một cuốn kinh thư.
Ông đã già rồi.
Già hơn năm năm trước rất nhiều.
Những nếp nhăn trên mặt như lòng sông khô nứt, nhưng đôi mắt vẫn sáng, sáng như những vì sao trên núi tuyết.
“Dolma nhà Sangji.” Ông gọi tên tôi, giọng khàn khàn, như gió thổi qua cành khô.
“Rinpoche.” Tôi quỳ xuống, dập đầu ba cái trước mặt ông.
“Đứng dậy đi.” Ông nói, “Con không cần phải quỳ lạy ta.”
Ông chỉ vào tấm đệm bên cạnh giường, “Ngồi đi.”
Tôi ngồi xuống đệm, đặt tay nải lên đầu gối.
Rinpoche nhìn tôi một cái, ánh mắt lướt từ mặt tôi sang tay nải, rồi từ tay nải quay về mặt tôi.
“Con muốn xuất gia?”
“Phải.”
“Vì sao?”
“Để sám hối.”
“Sám hối điều gì?”
“Sám hối tội lỗi của chính mình.”