"Trời lạnh, đừng để nhiễm phong hàn."
Chàng cúi đầu nhìn tôi, hồi lâu không nói lời nào.
Một lúc lâu sau, giọng chàng khàn đặc: "Là lỗi của ta, Linh Tịch, để nàng chịu khổ rồi."
"Về nhà thôi."
Phía sau im lặng một hồi.
Chàng bước theo sau, bàn tay to lớn phủ lên mu bàn tay tôi, nắm lấy tay tôi, không hề buông ra.
Lòng bàn tay ấm áp.
Trở về phủ Hoắc Kiêu, tôi bảo nha hoàn chuẩn bị canh, đích thân bưng vào phòng.
Hoắc Kiêu ngồi bên mép giường, đã thay bộ đồ tù, thần sắc bình thản, chỉ là giữa đôi mày có một vẻ mệt mỏi mà tôi không sao tả xiết.
Tôi đặt bát canh trước mặt chàng, không nói lời nào.
Chàng cúi đầu nhìn một chút, bưng lên, chậm rãi uống vài ngụm.
Trong phòng yên tĩnh, chỉ có tiếng gió thổi qua ngọn cây ngoài cửa sổ.
"Ta đã dâng sớ lên Thánh thượng," chàng đột nhiên lên tiếng, giọng bình ổn, "từ chức Định Viễn Tướng quân, cùng với tất cả tước vị, đều xin trả lại."
Tôi ngước mắt nhìn.
"Vụ án đã điều tra rõ ràng, chàng không hề có lỗi, sao phải từ chức?"
Chàng đặt bát xuống, im lặng một lúc.
"Từ xưa đến nay, vô tình nhất là nhà đế vương."
Giọng chàng không cao, nhưng từng chữ đều trầm ổn: "Thánh thượng đa nghi, lần này tuy đã điều tra rõ, nhưng hạt giống nghi ngờ đó đã gieo xuống rồi."
"Hôm nay không sao, không có nghĩa là ngày sau không lo."
"Nếu như sau này lại có người hạch tội, hạt giống đó sẽ bén rễ nảy mầm, đến lúc đó dù có trăm miệng cũng khó phân trần, kết cục chỉ sẽ thảm hơn lần này rất nhiều."
"Chi bằng nhân lúc vụ án đã sáng tỏ, thân x/ác trong sạch, chủ động trả lại binh quyền, triệt để xóa bỏ nỗi lo của Thánh thượng-- đây mới là đường lui duy nhất."
Tôi không nói gì.
Chàng nói đúng, trong lòng tôi hiểu rõ.
Chỉ là bảy năm li/ếm m/áu trên đầu đ/ao, bảy năm sương gió biên cương, bộ giáp đó cứ thế mà cởi xuống, rốt cuộc vẫn khiến lòng người thấy xót xa.
Hoắc Kiêu khẽ thở dài, cúi đầu, như thể đang nhìn lòng bàn tay mình.
"Chỉ là sau này..." chàng dừng lại, "ta cũng không biết, có thể đi đâu, có thể làm gì."
Câu nói này rất nhẹ, nhẹ đến mức như đang tự nói với chính mình.
Tôi nhìn chàng, trong lòng bỗng có thứ gì đó chùng xuống.
Người này tung hoành biên cương bảy năm, bách chiến bách thắng, nay lại ngồi trước mặt tôi nói không biết mình có thể đi đâu.
Tôi vươn tay, nắm lấy tay chàng, mười ngón đan ch/ặt, không hề buông ra.
Chàng ngẩng đầu, nhìn tôi.
"Hoắc Kiêu," tôi nhìn vào mắt chàng, giọng rất bình tĩnh, "chúng ta đã là vợ chồng."
"Chàng đi đâu, ta theo đó."
"Dù là sơn cùng thủy tận, hay không nơi để đi, cũng đều như nhau cả."
Chàng nhìn chằm chằm tôi, hồi lâu không nói lời nào.
Ánh nến khẽ lay động, chiếu rõ vẻ mệt mỏi trên mày mắt chàng.
Một lúc lâu sau, chàng cúi đầu, bàn tay đang nắm lấy tay tôi chậm rãi siết ch/ặt hơn một chút.
Thánh chỉ ba ngày sau ban xuống, chuẩn tấu đơn từ chức của Hoắc Kiêu, phong làm tri châu Thái Thương, khởi hành nhậm chức ngay trong ngày.
Thái Thương.
Thủy hương Giang Nam, khói mưa mịt mờ, cách kinh thành rất xa.
Thu xếp hành lý lên đường, dọc đường vượt núi băng sông.
Căn nhà chúng tôi dừng chân không lớn, sân trước trồng hai cây ngọc lan, đang nở rộ, gió thổi qua, cánh hoa rơi lả tả như tuyết.
Những ngày đầu, Hoắc Kiêu bận rộn bàn giao công việc, sớm đi tối về, tôi một mình quán xuyến việc nhà, sắp xếp lại từng món đồ trong rương về vị trí cũ.
Ngày tháng dần trôi, tôi mới dần nhận ra, người này với tôi, lại ăn ý đến từng chi tiết.
Tôi từ nhỏ đã thích chăm sóc hoa cỏ, những giống cây mà người khác cho là khó nuôi, vào tay tôi lại đ/âm chồi nảy lộc, tràn đầy sức sống.
Hoắc Kiêu lại biết về hoa qua sách vở, trên bàn thường đ/è một cuốn "Danh Phương Phổ", lật đến mức mép sách đã mềm nhũn, tùy miệng nói về tính khí của loài hoa nào, còn rành rọt hơn cả người nông dân trồng hoa.
Chàng thích uống trà, đối với nhiệt độ nước, thế tay rót nước đều có những quy tắc gần như cố chấp.
Tôi lại vừa khéo giỏi điểm trà, tay nghề vẽ tranh trên trà là do mẹ đích thân truyền dạy, có thể tái hiện cả sơn thủy vân phong trên mặt chén trà.
Ngày tháng ở Thái Thương chậm rãi hơn ở kinh thành.
Hoắc Kiêu công việc bận rộn, nhưng luôn ghi nhớ những lời tôi buột miệng nói trong những ngày nghỉ.
Có một hôm chàng tan làm về, thay thường phục, đợi tôi ở cửa, nói hôm nay ở Song Phượng có hội chùa, hỏi tôi có đi không.
Tôi đương nhiên là đi.
Tại hội chùa, tiếng người ồn ào, náo nhiệt vô cùng.
Chàng chân dài bước nhanh, nhưng luôn đi chậm hơn tôi nửa bước, mặc tôi ngó nghiêng khắp nơi, chưa bao giờ hối thúc.
Chúng tôi ăn mì th!t cừu ở Song Phượng, nước dùng trắng đục, sợi mì dai giòn, kèm theo một đĩa dưa muối, ăn đến mức mồ hôi vã ra trên trán.
Tôi đặt đũa xuống, chàng đã thêm đầy nước dùng vào bát tôi.
Tôi liếc nhìn chàng một cái, chàng chỉ cúi đầu tiếp tục ăn, vành tai lặng lẽ đỏ lên.
Phía sau hội chùa có dựng sân khấu diễn đàn sáo, chúng tôi tìm một góc ngồi xuống, tiếng nhạc du dương, gió đêm thổi mát rượi.
Tiếng đàn sáo uyển chuyển, khúc này nối tiếp khúc kia, khiến lòng người cũng trở nên mềm mại.
Tôi dựa vào cột hành lang nghe đến say sưa, khi hoàn h/ồn mới phát hiện chàng đang nghiêng mặt nhìn tôi không chớp mắt.
"Nhìn gì vậy?"
"Không có gì," chàng quay đầu lại, giọng trầm thấp, "Nàng nghe say sưa quá, trông rất đẹp."
Tôi nhất thời không đáp, vành tai lại không kìm được mà nóng bừng lên.
Trên sân khấu tiếng đàn sáo chưa dứt, gió đêm làm chiếc đèn lồng khẽ chao đảo, ánh sáng rơi trên gương mặt nghiêng của chàng, ấm áp, như một buổi chiều tà của năm cũ.
Tôi cúi đầu nhấp một ngụm rư/ợu, lặng lẽ quay mặt đi, trong lòng ấm áp, như lớp tuyết đ/è nặng bấy lâu nay bỗng chốc tan chảy một góc."}