Tôi cúi đầu, nghiến răng thốt ra một chữ: "Được."
Đám đông vây xem giải tán, mẹ Hạ đắc ý dào dạt được chủ nhiệm Mã mời vào văn phòng uống trà.
Chị Trương, người trước đây luôn thích kéo tôi lại, chia cho tôi ít hạt dưa đậu phộng, lặng lẽ tiến lại gần, thở dài:
"Miêu à, nghe chị một câu khuyên, cánh tay không thể thắng được cái đùi. Đi xin lỗi nhà họ Hạ một tiếng, hạ mình một chút, chuyện này rồi sẽ qua thôi."
Tôi lắc đầu, cầm lấy cây chổi và cái xẻng ở góc tường, từng bước đi về phía chuồng lợn hôi thối nồng nặc.
Xin lỗi sao? Tôi không sai, dựa vào cái gì mà phải xin lỗi?
Tôi chỉ là nhìn thấu một con người, thu hồi lại lòng tốt của mình, điều này cũng là sai sao?
Mùi hôi của chuồng lợn gần như khiến người ta nghẹt thở.
Tôi dùng xẻng xúc từng lớp cặn bẩn đông cứng đen kịt, mồ hôi hòa cùng bụi bặm chảy từ trán xuống, làm nhòe cả mắt.
Đúng lúc này, một tràng cười kiều diễm vang lên, thật trong trẻo, lạc lõng hoàn toàn với sự dơ bẩn nơi đây.
Tôi ngẩng đầu, nhìn thấy Hạ Thanh Sơn đang dìu Hứa Bội Bội đi ngang qua con đường nhỏ cạnh chuồng lợn.
Họ như cố tình đi vòng qua đây.
Hứa Bội Bội mặc một chiếc áo sơ mi trắng sạch sẽ, một chiếc quần dài màu xanh, chân đi đôi dép nhựa màu trắng.
Trong nhà máy th!t xám xịt này, cô ta giống như một đóa hoa dành dành không vướng bụi trần.
Cô ta đứng ở phía đầu gió, cách chuồng lợn thật xa, một tay bịt mũi.
"Ôi chao, cái mùi gì thế này, khó ngửi quá đi."
Còn Hạ Thanh Sơn, đang dùng tư thế của một kẻ chiến thắng, nhìn tôi từ trên cao xuống.
Trong ánh mắt đó không có lấy một chút hối lỗi, toàn là sự kh/inh miệt và khoái chí trần trụi.
Anh ta như đang nói: Nhìn xem, đây chính là cái giá phải trả khi dám chống đối tôi.
Ánh mắt tôi rơi vào cổ của Hứa Bội Bội.
Nơi đó, trống trơn.
Nhưng tâm trí tôi lại bay về mùa đông năm ngoái.
Đó là mùa đông thứ hai tôi đến nhà máy th!t, trời lạnh thấu xươ/ng.
Hạ Thanh Sơn khi đó vẫn mặc bộ quân phục cán bộ mỏng manh, lạnh đến mức môi tím tái.
Tôi xót xa cho anh ta, nên đã chắt chiu tiền và tem vải suốt nửa năm trời, nhờ người mang từ thành phố về loại len tốt nhất.
Loại len lông cừu nguyên chất màu xám đậm đó, vừa mềm vừa ấm.
Ban ngày tôi c/ắt th!t, tối đến lại cuộn mình trong chăn, mượn ánh đèn dầu lờ mờ, từng mũi từng mũi đan khăn quàng cho anh ta.
Nửa tháng sau, tôi mang chiếc khăn dày dặn, phẳng phiu đó tặng cho anh ta.
Bộ dạng của Hạ Thanh Sơn lúc đó, đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ.
Anh ta nhận lấy chiếc khăn, vuốt ve những đường vân mềm mại trên đó, trong mắt như có ánh sao.
Anh ta nắm lấy tay tôi, giọng nói hơi r/un r/ẩy:
"Khương Miêu, đây là món quà ấm áp nhất mà anh từng nhận được."
Tôi bị câu nói đó của anh ta làm cho mê muội, cảm thấy mọi thứ đều đáng giá.
Thế nhưng, chỉ vài ngày sau, tôi đi cửa hàng cung tiêu m/ua muối, liền chạm mặt Hứa Bội Bội.
Trên cổ cô ta, chễm chệ quàng chiếc khăn len màu xám đậm mà tôi đã từng mũi kim đan nên.
Cô ta nhìn thấy tôi, không những không tránh né mà còn cố tình dừng lại trước mặt tôi, như muốn khoe khoang mà vuốt ve chiếc khăn.
Khóe miệng nở một nụ cười khó đoán: "Anh Thanh Sơn tặng đấy, đẹp không?"
Lúc đó tôi như bị sét đá/nh ngang tai, đầu óc trống rỗng.
Sau đó tôi đi chất vấn Hạ Thanh Sơn.
Anh ta đã nói thế nào?
Anh ta giải thích với vẻ đầy khó xử:
"Bội Bội sức khỏe không tốt, cô ấy cần chiếc khăn này hơn anh. Khương Miêu, em tốt bụng như vậy, chắc chắn sẽ hiểu cho anh, đúng không?"
Hiểu cái rắm ấy!
Nhưng lúc đó tôi, nhìn khuôn mặt đầy vẻ "bất đắc dĩ" của anh ta, lại thực sự tin là thật.
Tuy trong lòng đ/au đớn, nhưng vẫn ngây ngô gật đầu.
Thậm chí sau đó, thấy anh ta vẫn mặc đồ mỏng manh, tôi còn giặt sạch chiếc khăn cũ của mình rồi mang tặng cho anh ta.
Giờ nghĩ lại, tôi đúng là ng/u ngốc hết chỗ nói.
"Thanh Sơn, ở đây hôi quá, chúng ta mau đi thôi."
Giọng nói nũng nịu của Hứa Bội Bội kéo tôi về từ ký ức.
Cô ta nhíu mày, sự gh/ê t/ởm trên mặt không hề che giấu.
Hạ Thanh Sơn vỗ vỗ tay cô ta để trấn an, nhưng ánh mắt vẫn dán ch/ặt vào người tôi, như đang thưởng thức một vở kịch hay do chính tay anh ta đạo diễn.
Đúng lúc này, một giọng nói quen thuộc vang lên đầy tiếng khóc: "Chị!"
Tôi quay đầu lại, nhìn thấy em trai tôi là Khương Xuyên, xách một chiếc cặp lồng nhôm, đứng trước cửa chuồng lợn, vành mắt đỏ hoe.
Nó năm nay mới mười lăm tuổi, vẫn còn đang đi học cấp hai.
Thằng bé đang ở độ tuổi sĩ diện nhất.
Lúc này, nó nhìn thấy tôi đầy bùn đất trong chuồng lợn, nước mắt "lộp bộp" rơi xuống.
"Chị... tại sao họ lại bắt chị làm việc này..."
"Khóc cái gì, chị không sao."
Tôi buông xẻng, bước về phía nó, muốn lau nước mắt cho nó.
Nhưng vừa nhìn thấy đôi bàn tay đầy bùn đen của mình, tôi lại rụt tay về.
"Nghe lời, đưa cặp lồng cho chị, em mau về nhà đi. Đây không phải nơi em nên đến."
Tôi nhận lấy cặp lồng, xua tay đuổi nó đi.
Ngay lúc chị em tôi đang giằng co, mấy bà thím mặc áo vải hoa đi ngang qua.
Họ là "chị em tốt" của mẹ Hạ trong xưởng, ngày thường thích nhất là ngồi lê đôi mách.
Họ nhìn thấy chúng tôi, lập tức dừng bước, không hề kiêng dè chỉ trỏ.
"Ô kìa, đó chẳng phải là thằng nhóc nhà họ Khương sao?"
"Chứ còn gì nữa, đến thăm chị nó đấy. Chậc chậc, thật đáng thương, một đứa thì hốt phân trong chuồng lợn, một đứa thì đứng nhìn rơi nước mắt."