Các sư tỷ sư muội trong núi tuy cũng thường chơi đùa cùng ta, nhưng việc học bận rộn, rốt cuộc chẳng thể thảnh thơi như ta.
Ta vốn là kẻ nhàn nhã, hiếm hoi mới tìm được một người bạn chơi cũng thanh thản như thế.
Chàng vừa tới, hai ta liền quấn quýt chơi đùa cùng nhau.
Hai ta thường cùng nhau vẽ tranh.
Từ nhỏ được tổ mẫu chàng chỉ dạy, kỹ năng vẽ của chàng thực ra không tệ, bút pháp chỉnh tề, phối màu nhã nhặn.
Thế nhưng khi đặt cạnh tranh của ta, lại luôn lộ vẻ quá đỗi chỉnh tề mà thiếu đi vài phần khí vận.
Bản thân chàng cũng nhìn ra điều đó, luôn quấn quýt hỏi ta khí vận ấy là luyện ra sao.
Ta vốn ăn nói vụng về, thường chẳng biết phải đáp lại ra sao.
Cuối cùng, vẫn là Phó lão phu nhân ra tay giải vây cho ta.
Bà nói: "Linh tính trong tranh của Thư Nguyên là ngộ ra từ núi Vân Sầm, ngươi là đứa nghịch ngợm này học không được đâu."
Phó Sùng Cảnh nghe vậy liền không chịu, quấn lấy ta đòi dẫn chàng vào núi tìm ki/ếm linh tính.
Ta đành chiều theo, bèn đồng ý dẫn chàng vào núi tìm cảm hứng.
Hai ta thong dong dạo bước trong núi. Chàng mang theo họa cụ, ta mang theo lương khô.
Đi mỏi chân liền ngồi trên tảng đ/á lớn bên khe suối, ngắm mây trôi, nghe nước chảy, mỗi người một góc vẽ tranh.
Thế nhưng mỗi lần tranh của hai ta được trình lên Phó lão phu nhân, bức của chàng luôn kém ta một bậc.
Lâu dần, chàng bèn tránh né cái sắc sảo của ta, chuyển sang đề thơ lên tranh của ta.
Ta vẽ rừng trúc sau mưa, chàng đề: "Mưa tạnh rửa trời xanh, vạn khóm trúc mờ trong sương sớm lạnh."
Ta vẽ hạc cô đ/ộc bên đầm lạnh, chàng đề: "Cánh tuyết chẳng vương bùn, một mình đứng giữa nước mây thấp."
Mỗi lần như vậy, chàng đều có thể thấu hiểu chính x/ác ý cảnh trong tranh ta.
Những tâm tư chảy tràn dưới ngòi bút của ta, ngay cả bản thân ta còn chưa kịp gỡ rối, luôn được chàng dùng vài dòng thơ khẽ khàng vén mở.
Ta tuy chưa từng mở lời khẳng định, nhưng trong lòng lại vô cùng hoan hỉ.
Hiếm hoi thay trên đời này lại có người thấu hiểu ta.
Những năm tháng sau này,
chúng ta luôn gặp nhau vào hai ba tháng giữa mùa hạ.
Uống trà vẽ tranh, du sơn ngoạn thủy, thong dong lại tự tại.
Chàng nói ta tựa như vị trích tiên chốn sơn lâm, ngoài việc vẽ tranh ra, chuyện gì cũng chẳng làm nên h/ồn.
Nữ công thô vụng, chẳng hiểu thế tình, ngay cả việc đun một ấm trà cũng có thể làm ch/áy thủng đáy.
Thế nhưng chàng lại bảo, chính là thích cái khí chất thoát tục linh động trên người ta.
Các tiểu thư khuê các chốn kinh thành ví như chim hoàng yến trong lồng son, còn ta lại tựa chim oanh hoang, tuy vụng về, nhưng lại tự do tự tại.
Ta từng ngây thơ tưởng rằng, mình có thể nương vào sự yêu mến của chàng mà làm một chú chim oanh hoang tự tại suốt kiếp.
Chàng là nam tử duy nhất ta từng tiếp xúc khi ấy.
Chàng thấu hiểu ta, che chở cho ta.
Chàng sẽ đuổi chim đi khi ta bị chim núi làm gi/ật mình hỏng nét bút.
Chàng sẽ đỡ ta lên bờ khi ta lỡ chân ngã xuống khe suối.
Chàng sẽ đề thơ lên tranh khi ta hoàn thành tác phẩm.
Chàng từng nói: "Đợi nàng cập kê, ta sẽ rước nàng về."
Ta liền tin tưởng, ngỡ rằng chúng ta sẽ cứ thế hạnh phúc vui vầy suốt kiếp.
Chúng ta cùng nhau nghiên mực đ/ốt hương, vẽ tranh đề thơ, xuân ngắm trăm hoa đua nở, đông lắng nghe tuyết rơi lả tả.
Ta chưa từng nghĩ tới cuộc sống nơi sơn ngoại.
Cũng chưa từng nghĩ bốn chữ "chủ mẫu phủ Thượng thư" rốt cuộc mang ý nghĩa gì.
Cho đến lần xuống núi này.
Ta đứng giữa hoa sảnh phủ Thượng thư, nhìn thấy khoảnh khắc chàng ra mặt giải vây cho ta trước đông người,
đáy mắt chàng thoáng qua một tia thất vọng cùng ngượng ngùng.
Ta mới chợt nhận ra, Phó Sùng Cảnh nơi sơn ngoại, đã không còn là thiếu niên sẵn sàng đuổi chim núi vì ta.
Chàng là công tử phủ Thượng thư, là kinh quan có tiền đồ rộng mở, là con em thế gia buộc phải giữ gìn thể diện, cân nhắc thiệt hơn trong những cuộc chén tạc chén th/ù.
Còn ta, một khi bước ra khỏi núi, cũng chỉ là Thẩm nhị cô nương vụng về đần độn.
Hôm ấy tiệc tàn, chàng dẫn ta đến ra mắt mẫu thân.
Phó phu nhân khí chất đoan trang, tuy vẫn giữ vẻ khách sáo bề ngoài với ta, nhưng vừa nghe danh "Thẩm nhị cô nương", sắc mặt liền đột ngột thay đổi.
"Thẩm đại cô nương tài tình xuất chúng, cử chỉ đoan trang."
"Còn nhị cô nương... đã quen với sự phóng khoáng nơi sơn dã. Phủ Phó ta gia quy nghiêm ngặt, e rằng cô nương một khi bước vào cửa, sẽ khó lòng thích nghi với sự câu thúc."
Ta tuy đần độn, nhưng ẩn ý trong lời bà ta nghe rõ mồn một.
Phó Sùng Cảnh đứng bên cạnh, lắng nghe lời mẫu thân mà không hề lên tiếng phản bác.
Khoảnh khắc ấy, ta bỗng chốc nhìn thấu tất cả.
Trên núi Vân Sầm, Phó Sùng Cảnh yêu mến ta, là bởi ta chỉ cần cầm bút vẽ tranh, chẳng cần mở lời đối đáp, chẳng cần xã giao ứng phó, cũng chẳng phải vụng về loay hoay giữa chốn nhân tình thế thái.
Còn hình ảnh "thoát tục linh động" mà chàng yêu thích, thực chất là một ta đã được gột rửa sạch bụi trần,
là một ảo ảnh chỉ tồn tại giữa núi rừng khe suối.
Thế nhưng một khi bước xuống núi, ta đần, ta chậm, ta chẳng biết nhìn sắc mặt đoán ý người, cũng chẳng biết nịnh hót giao thiệp.
Ta căn bản không thể đảm đương vị trí chủ mẫu phủ Thượng thư.
Liệu chàng có còn yêu mến một ta như thế chăng?
Phó Sùng Cảnh lúc này vẫn còn muốn che chở ta, nhưng sự che chở ấy, đã mang theo lời cảnh cáo, mang theo sự khẩn cầu, mang theo một sự đá/nh đổi rằng ta phải vì chàng mà giành lại thể diện.
Nếu có một ngày, con đường hoạn lộ của chàng cần một vị chủ mẫu chu toàn hơn, những vị đồng liêu cần một người biết ứng đối lanh lợi hơn, gia tộc cần một thông gia môn đăng hộ đối hơn.
Chút thất vọng trong đáy mắt chàng, liệu có sẽ hóa thành sự chán gh/ét?
Bóng lưng chàng từng chắn trước ta, liệu có sẽ hóa thành đôi tay đẩy ta ra xa?
Ta không dám nghĩ tiếp.
Hay nói cách khác, sự trầm mặc của chàng trước mặt mẫu thân lúc này, đã đủ để ta hiểu rõ tất cả.
Trở về núi Vân Sầm, tổ mẫu đã đứng sẵn ở sơn môn đợi ta.
Tổ mẫu dường như đã liệu trước mọi sự, khẽ hỏi ta: "Đã nhìn rõ rồi chứ?"
Ta đáp: "Đã nhìn rõ rồi."
Tổ mẫu bèn không hỏi thêm lời nào.
Sau ngày hôm ấy, hai bức thư mỗi tháng do Phó Sùng Cảnh gửi từ Yên Châu về bỗng dứt bặt.
Ngược lại, phụ mẫu lại gửi tới một phong thư sau bao lâu vắng bóng.
Trong thư báo rằng hôn sự của trưởng tỷ đã định, muốn ta hồi kinh để xem mặt.