Ta tên là A Cửu.

Cái tên này là do sư phụ đặt. Người nói, ngày nhặt được ta là ngày mùng chín tháng Chạp, tuyết phủ kín cả núi.

Người đào ta ra từ đống x/ác ch*t, thế mà ta lại chẳng hề khóc, cứ mở to đôi mắt đen láy như quả nho mà nhìn người.

Người bèn bảo: "Con cứ gọi là A Cửu đi."

Mẫu thân ta hạ sinh ta trên chiến trường, đó là trận chiến thế nào, người không nói, ta cũng không hỏi.

Ta chỉ biết, sau khi sinh ta ra, người không bao giờ đứng dậy được nữa, còn lá cờ mà người liều ch*t bảo vệ, cuối cùng vẫn đổ gục trong vũng m/áu.

Còn vì sao ta vẫn sống, sư phụ nói: "Có lẽ vì trời xanh thấy con không đáng phải ch*t, có lẽ vì trong huyết quản con đang chảy dòng m/áu không nên đ/ứt đoạn."

Từ nhỏ đến lớn, ta chỉ biết trong đạo quán trên núi Chung Nam chỉ có ta và người, dưới chân núi có thôn xóm, người trong thôn thỉnh thoảng lại mang gạo mì lên, gọi sư phụ ta là "Thanh Phong chân nhân".

Nhưng ta biết người chẳng phải chân nhân gì cả, người chỉ là một lão già lẩm cẩm, ngày ngày khoác trên mình chiếc áo choàng xám đã giặt đến bạc màu, nấu trà, đả tọa, trêu chọc lũ thú nhỏ, thỉnh thoảng lại gõ vào đầu ta.

Phải rồi, thường xuyên lui tới còn có một vị sư thúc, mỗi lần đến đều đứng dưới hiên nhìn ta luyện công, chỉ gật đầu rồi buông một câu: "Căn cốt không tệ", "Có tiến bộ". Ta rất sợ bà, vì ta chưa từng thấy bà cười. Sư phụ nói sư thúc cũng giống ta, đều được đào ra từ đống x/ác ch*t. Năm đó sư phụ cũng chỉ mới năm tuổi, sư gia nhặt được bà khi bà đang được quấn trong một chiếc tã Iót thêu phượng vàng, chiếc tã ấy dính đầy m/áu và bùn, nhưng hoa văn phượng hoàng vẫn còn rõ nét. Sư gia không nói cho sư phụ bất cứ suy đoán nào về chiếc tã ấy, chỉ ôm bà vào lòng, đi suốt ba ngày ba đêm trong làn tuyết dày đến tận đầu gối.

"Tu đạo không phải là chạy đường, mà là đợi hoa nở." Người luôn nói như vậy.

Thế mà ta lại là kẻ nóng tính. Năm năm tuổi, có một con bạch hổ bị thương tìm đến núi Chung Nam, một nửa thân mình nó bị th/iêu ch/áy, lông lá bết dính m/áu tươi, nằm phủ phục trên bậc đ/á ngoài sơn môn, cổ họng phát ra ti/ếng r/ên rỉ trầm đục.

Khi ấy ta đang ngồi xổm trong sân cho gà ăn, thấy nó, phản ứng đầu tiên không phải là sợ hãi, mà là chạy vào nhà bưng ra một chậu nước.

Bạch hổ ngẩng đầu, đôi mắt hổ phách nhìn ta hồi lâu, rồi cúi đầu li/ếm nước trong chậu.

Sư phụ đứng dưới hiên nhìn một lúc, thở dài: "Thứ này không nên xuất hiện ở đây." Rồi người quay lưng vào nhà, không đuổi nó đi.

Từ đó về sau, bạch hổ ở lại trong hang núi phía sau đạo quán. Ta gọi nó là A Bạch, nó nghe hiểu, mỗi lần ta gọi, nó đều từ trong hang chạy ra, dùng cái đầu to hơn cả đầu ta mà dụi vào vai ta.

Sau này ta mới biết, A Bạch là hậu duệ của linh thú thượng cổ, người thường cả đời chẳng thể thấy nổi, huống chi là thuần hóa. Thế mà nó cứ theo ta như vậy, một lần theo là mấy trăm năm.

Những ngày tháng tu đạo trôi qua rất chậm, chậm đến mức ta có thể đếm rõ mạch của từng chiếc lá trên cây hòe già. Nhưng ngày tháng cũng thật nhanh, nhanh đến mức chớp mắt một cái, ta từ một cô bé ngồi xổm trong sân cho gà ăn, đã trở thành thiếu nữ có thể dẫn linh khí đất trời vào cơ thể.

Năm mười lăm tuổi, ta lần đầu tiên trúc cơ thành công, nghe thấy tiếng thở của cả ngọn núi Chung Nam. Tiếng thông reo, suối chảy, chim hót, gió lướt qua rừng trúc, tất cả âm thanh hòa thành một dòng sông, chảy qua kinh mạch của ta.

Sư phụ đặt tay lên đỉnh đầu ta, nói một câu rất kỳ lạ: "Hãy ghi nhớ cảm giác này. Trên đời này không có gì là mãi mãi bất biến, thứ duy nhất không thay đổi, chính là hơi thở của đất trời này."

Khi ấy ta không hiểu, đợi đến khi ta hiểu ra, đã là chuyện của rất nhiều năm sau đó.

Hai mươi lăm tuổi kết đan.

Năm mươi tuổi nguyên anh. Dung mạo ta mãi dừng lại ở độ tuổi đôi mươi, còn tóc sư phụ đã bạc trắng.

"Người cũng sẽ già sao?" Ta hỏi người.

Sư phụ mỉm cười, không nói gì.

Sau này ta mới hiểu, người không phải sẽ già, mà là đã dùng phần lớn tu vi của mình để áp chế thứ gì đó trong cơ thể ta. Thứ đó đi theo ta từ lúc chào đời, như một con cự thú đang ngủ say, cuộn mình trong đan điền của ta. Sư phụ nói, đó là "Thiên mệnh chi lực" mang theo từ trong mệnh.

Năm hai mươi ba tuổi, lần đầu tiên ta xuống núi.

Sư phụ nói: "Con nên đi xem nhân gian này đi."

Ta cải nam trang, dùng cái tên "Từ Như Hối", đi đến Liêu Đông.

Khi ấy Thiên Khải hoàng đế vẫn còn tại vị, thiết kỵ của Nỗ Nhĩ Cáp Xích tung hoành ngoài quan ải, triều Đại Minh như một cái ống bễ rá/ch, chỗ nào cũng hở.

Ta bắt đầu từ lính trinh sát, một thiếu niên binh trông chỉ mười lăm mười sáu tuổi, chẳng ai coi trọng. Lần đầu ra trận, ta xông lên phía trước nhất, mũi tên sượt qua tai ta mà bay đi, đ/ao ch/ém vào vai, m/áu nhuộm đỏ cả thân mình.

Nhưng ta không ch*t, những vết thương ấy chỉ trong vài nhịp thở đã lành lại, đến cả s/ẹo cũng không để lại.

Từ đó về sau, trong quân gọi ta là "Tiểu Từ tướng quân".

Không phải vì ta đá/nh giỏi bao nhiêu, mà vì tất cả mọi người đều phát hiện ra, kẻ này sao mà đá/nh mãi không ch*t.

Có lần ta bị ba kỵ binh Đát Tử vây hãm, chúng vung loan đ/ao ch/ém tới tấp vào người ta, một đ/ao ch/ém vào cánh tay trái, một đ/ao lướt qua xươ/ng sườn, còn một đ/ao suýt chút nữa đã ch/ém đ/ứt tai ta.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Chàng hữu tình, thiếp vô tâm

Chương 14
Giới thiệu: Trương Thanh Thanh và Trì Dã kết hôn được năm năm, nhưng Trì Dã đã ngoại tình suốt bốn năm rưỡi. Vì gia quy nhà họ Trương và thỏa thuận hôn nhân, Trương Thanh Thanh đành nhẫn nhịn chịu đựng trong thời gian dài, phải hứng chịu nạn bạo hành gia đình cùng những âm mưu hãm hại từ Thẩm Mộng. Khi thỏa thuận hôn nhân hết hạn vào năm thứ sáu, cô quyết định ly hôn rồi rời đi nước ngoài. Cuối cùng, cô gặp được tình yêu đích thực là Eric và có được hạnh phúc. Sau khi mất đi cô, Trì Dã vô cùng hối hận nhưng đã không thể cứu vãn. Đây là một câu chuyện tình yêu hiện đại đầy ngược tâm về sự phản bội, nhẫn nhịn, đấu tranh và hành trình tự cứu rỗi bản thân.
0