Tầm nhìn trước mắt bỗng nhòe đi, khi nước mắt rơi xuống, chính ta cũng không phản ứng kịp. Từng giọt, từng giọt nện xuống mặt bàn đ/á, b/ắn ra những vệt nước nhỏ. Đồng Thanh Yến không an ủi ta, cô chỉ đặt chén trà xuống, lấy từ trong tay áo ra một tờ giấy vàng, một cây bút chu sa, bắt đầu cúi đầu vẽ bùa. Từng nét một, chậm rãi và vững vàng, như cách cô nấu trà, không vội vã, không nóng nảy.
"Để ta giúp cô tìm lại," cô không ngẩng đầu, giọng nói rất nhẹ, "Cô không có ký ức thì không vui vẻ gì."
Bùa vẽ xong, cô gấp thành hình tam giác, đặt dưới đáy chén trà, châm lửa đ/ốt bùa, rồi nhấc ấm trà lên, rót dòng nước sôi sùng sục vào. Tờ giấy bùa tan ra trong chén, màu đỏ của chu sa lan tỏa trong nước như m/áu, nhưng trong một khoảnh khắc lại ngưng tụ thành một hạt châu nhỏ xíu, chìm xuống đáy chén.
"Uống đi," cô đẩy chén trà về phía ta.
Ta bưng lên, nước bùa ấm nóng, mang theo vị đắng nhàn nhạt, ta nhắm mắt, uống cạn một hơi.
Ba nhịp thở đầu, không có gì xảy ra cả. Đến nhịp thứ tư, trong đầu như có ai đó đẩy mở một cánh cửa sổ, ánh sáng tràn vào, ánh sáng bao trùm tất cả. Trong đầu vang lên tiếng "ầm" một cái, như đê vỡ. Ký ức hơn ba trăm năm ùa về cuồn cuộn. Gió cát Liêu Đông, tùng bách Quảng Tây, tuyết núi Chung Nam, mái tóc hoa râm của sư phụ. Tiếng gầm của A Bạch, tiếng kêu của Thanh Loan, Hắc Long cuộn mình trong dòng nước vàng óng, Kim Mao Hống ngồi xổm ở cửa hang lặng lẽ nhìn ta. Ánh lửa thành Nam Kinh, tiếng gió trên núi Tử Kim, gương mặt của những người đã ch*t trong lòng ta, từng người, từng người một, xoay chuyển trước mắt như đèn lồng kéo quân.
Ta không hét, không giãy giụa. Ta chỉ chống hai tay lên bàn đ/á, thở hổ/n h/ển, nước mắt và mồ hôi hòa vào nhau, nhỏ xuống tờ giấy bùa đã tan hết kia. Đồng Thanh Yến vẫn ngồi đối diện, lặng lẽ nhìn ta. Khi ta có thể ngẩng đầu lên, trời đã gần tối. Ta nhìn cô, đôi môi r/un r/ẩy: "Sư thúc, là người sao?"
"Chúng ta có quen nhau không?" Ta thăm dò.
Cô cười, đó là lần đầu tiên chiều hôm ấy, cô thực sự cười từ tận đáy lòng. "Bây giờ chẳng phải quen rồi sao?" Cô vừa nói vừa bắt đầu bấm tay niệm chú, "Tiếp tục, nhắm mắt lại."
Ta trở về năm Dân Quốc thứ hai mươi sáu, tức năm 1937, ta nhìn thấy một người trên đường phố Nam Kinh, đó là... Chu Viễn? Ta lại thấy một 'ta' khác, khi ta gặp anh, anh mới mười chín tuổi, là sinh viên năm hai đại học. Sau sự biến Lư Câu Kiều, anh theo ta học vài đạo thuật thô sơ, sau đó gia nhập Cửu Châu Xã - chính là Cửu Châu Xã mà ta đã một tay gây dựng năm đó. Những năm kháng chiến, anh thay ta chạy vạy khắp nơi, đưa tin tình báo, c/ứu thương binh, chuyển di văn vật, việc gì cũng làm.
Năm 1944, khi anh thực hiện nhiệm vụ ở Hồ Nam, bị quân Nhật bao vây. Lúc đột phá vòng vây, anh đỡ cho ta một phát sú/ng, ta nghe thấy tiếng tim mình đ/ập, nghe thấy tiếng mình khóc, trong tiếng khóc ấy tràn đầy tuyệt vọng và bi thương. Anh ch*t trong lòng ta, trước khi ch*t anh nói với ta một câu: "Cửu cô nương, kiếp sau ta nhất định sẽ tìm thấy nàng."
Ta nói: "Được, được, được, nhất định sẽ được." Ta mở mắt, bưng chén trà đã nguội ngắt, uống cạn một hơi. Nhớ ra rồi, nhớ ra hết rồi. Hèn gì sư phụ phải phong ấn ký ức và tu vi của ta, hóa ra là biết ta còn nhân quả phải trả. Ba mươi năm ở núi Tuyết Liên đó, sư phụ muốn dùng cách này để giữ lại thời gian, đợi anh chuyển thế.
Ta cúi đầu nhìn đứa trẻ trong lòng, nước mắt tuôn rơi, năm năm đã hết.
"Ức Nhi? Ức Nhi em sao vậy?" Chu Viễn h/oảng s/ợ, "Em nhớ ra cái gì rồi!"
Ta nắm lấy tay anh, tay anh rất ấm, không giống bàn tay thô ráp xoa đầu ta của sư phụ trong ký ức. Nhưng cũng khiến người ta muốn khóc.
"A Viễn," ta nói, "anh nghe em nói này."
"Em không sao, em chỉ là... nhớ ra rồi."
"Nhớ ra cái gì?"
"Nhớ ra ta là ai." Có những lời không thể nói, ví dụ như, ta đã sống ba trăm năm.
Đêm đó, nằm trên giường, chúng ta không ai dám nói lời nào. Anh ôm ch/ặt lấy ta, Chu Dịch nằm trong lòng ta. Đêm khuya, ta nói: "Ta phải đi rồi."
Im lặng, một sự im lặng kéo dài.
"Còn con thì sao?" Giọng anh rất bình tĩnh, nhưng lực đạo nắm tay ta đã b/án đứng anh.
"Con anh nuôi đi," ta nói, "ta không thể mang theo nó, con đường của ta..."
"Vậy khi nào em về?"
"Ta không biết."
Anh cúi đầu, nhìn đứa trẻ trong lòng. Đứa bé ngủ rất say, khóe miệng còn vương một chút nước dãi. Anh nhìn rất lâu, rất lâu, cuối cùng ngẩng đầu lên, mắt toàn là tơ m/áu, nhưng không có nước mắt.
"Anh đợi em," anh nói.
Ta há miệng, muốn nói "đừng đợi nữa", nhưng không thốt nên lời.
Ngày ta đi, Chu Viễn ngồi trong phòng khách suốt một đêm. Sáng hôm sau, anh đi làm giấy khai sinh cho con, tên là Chu Dịch Hồi. Dịch trong dễ dàng, Hồi trong trở về.
Khi ta quay lại núi Chung Nam, đã là chiều ngày hôm sau. Những bức tường đổ nát của đạo quán vẫn còn đó, cây hòe già vẫn còn đó, phiến đ/á xanh vẫn còn đó, nhưng sư phụ không còn nữa.