Tôi đưa tay lên mũi ngửi thử, trong kẽ tay vẫn còn vương lại mùi th/uốc sát trùng nhàn nhạt, hòa lẫn với thứ mùi ngọt lợ và nồng hắc đặc trưng của chất bảo quản. Mỗi ngày tôi rửa tay rất nhiều lần, dùng cồn lau, dùng giấm ngâm, nhưng mùi này như đã thấm sâu vào da th!t, làm sao cũng không tẩy sạch được.
Thay đồ xong đi ra, lúc ngang qua phòng trực, tôi nghe thấy mấy đồng nghiệp bên trong đang trò chuyện.
"...Cô nói xem chị Lâm cũng thật khổ, một người đàn bà nuôi đứa con c/âm đi/ếc, mỗi tháng còn phải gửi về sáu ngàn cho ông bố."
"Nghe nói rồi, sáu tầng lầu đều cho ông anh cả, chẳng được đồng nào, còn phải bù lỗ ngược lại."
"Theo tôi thì đừng đưa, cứ đợi tòa phán quyết rồi tính. Sáu ngàn tệ, một tháng cô ấy ki/ếm được bao nhiêu chứ?"
"Ai mà biết được, nhà nào cũng có nỗi khổ riêng."
Bước chân tôi khựng lại một chút, rồi tiếp tục đi về phía trước.
Khi bước ra khỏi cổng nhà tang lễ, trời đã tối hẳn. Gió đêm mùa xuân vẫn còn lạnh, thổi vào người khiến tôi nổi da gà. Ở trạm xe buýt chỉ có mình tôi, ánh đèn đường vàng vọt kéo dài cái bóng của tôi ra rất xa.
Điện thoại lại rung. Lần này là số của cha. Ba năm nay ông gần như chưa bao giờ chủ động gọi cho tôi. Tôi nhìn chằm chằm vào cái tên đó rất lâu, cuối cùng vẫn bắt máy.
"Tiền nhận được rồi." Giọng cha khô khốc, "Tháng sau đừng quên."
"Con biết rồi."
"Tiểu Nhĩ Đóa... dạo này thế nào?"
Tôi ngẩn người. Ông ấy vậy mà lại hỏi về Tiểu Nhĩ Đóa. Ba năm nay ông chưa từng hỏi bao giờ.
"Vẫn vậy thôi." Tôi nói.
Đầu dây bên kia im lặng hồi lâu. Tôi nghe thấy tiếng thở dốc nặng nề của ông, cùng với âm thanh nền của bản tin thời sự trên tivi.
"Tháng trước anh trai con mới m/ua xe mới." Cha đột nhiên nói, "Panamera, hơn một triệu."
Tôi không biết phải tiếp lời thế nào.
"Cúp đây." Cha nói xong liền tắt máy.
Tôi cầm điện thoại đứng trên trạm xe buýt trống trải, gió từ phía đối diện con đường thổi tới, cuốn theo mấy chiếc lá khô đ/ập vào ống quần tôi.
Panamera. Hơn một triệu.
Ốc tai điện tử của Tiểu Nhĩ Đóa ba trăm ngàn.
Tôi cúi người xuống, hai tay chống lên đầu gối, hít một hơi thật sâu.
Xe buýt đến. Tôi lên xe, bỏ tiền, tìm một chỗ ngồi gần cửa sổ. Cảnh đêm bên ngoài cửa sổ lùi lại từng khung hình, ánh đèn thành phố khi tỏ khi mờ, in trên mặt kính cửa sổ như một dải ngân hà mờ ảo.
Tôi tựa vào cửa sổ, nhắm mắt lại.
Trong xe có người đang gọi điện, có người đang lướt video ngắn, có người đang ăn uống. Những âm thanh này trộn lẫn vào nhau, biến thành một khối tạp âm ù ù. Tôi bỗng nhiên nghĩ đến Tiểu Nhĩ Đóa. Thế giới của con bé lúc nào cũng tĩnh lặng như vậy, tĩnh lặng đến mức chỉ còn lại những rung động yếu ớt do chính con bé tạo ra.
Đến bao giờ tôi mới có thể để con bé nghe thấy thế giới ồn ào, náo nhiệt, đầy ắp những âm thanh này?
Tôi không biết.
Nhưng tôi biết, sáu ngàn tệ của ngày mùng một tháng này đã bị trừ đi rồi. Mùng một tháng sau, lại sẽ bị trừ đi sáu ngàn nữa.
Tôi lấy ví ra xem. Bên trong còn lại ba trăm hai mươi tệ. Còn hai mươi ngày nữa mới đến ngày nhận lương.
Tôi mở phần ghi chú trong điện thoại, ghi lại một dòng: M/ua pin, hai vỉ, 20 tệ. Để lại 300 tệ ăn uống.
Sau đó tôi nhét điện thoại vào túi, áp đầu vào mặt kính cửa sổ lạnh ngắt, lắc lư theo nhịp xóc của xe.
Về đến nhà đã gần chín giờ. Tiểu Nhĩ Đóa vẫn chưa ngủ, bà Lý hàng xóm giúp tôi trông con bé. Bà Lý sống ở nhà bên cạnh, là một góa phụ hơn sáu mươi tuổi, con cái đều ở xa, thấy tôi một mình nuôi con tội nghiệp nên thường xuyên giúp đỡ.
"Đông Nhạn về rồi à? Tiểu Nhĩ Đóa hôm nay ngoan lắm, tự vẽ tranh suốt cả buổi chiều." Bà Lý cười chỉ chỉ vào bàn.
Tôi nhìn sang, trên chiếc bàn gấp trải một tờ giấy trắng, trên đó dùng bút sáp màu vẽ ba người. Một người cao, một người thấp, và một người chống gậy. Người thấp được người cao dắt tay, người chống gậy đứng bên cạnh, trên mặt vẽ một nụ cười rất lớn.
"Đây là vẽ ai vậy con?" Tôi hỏi Tiểu Nhĩ Đóa, cúi người xuống ngang tầm mắt với con bé.
Tiểu Nhĩ Đóa chỉ vào người cao, rồi chỉ vào tôi. Sau đó chỉ vào người thấp, vỗ vỗ vào ngựk mình. Cuối cùng chỉ vào người chống gậy, do dự một chút, khuôn miệng cử động, phát ra một tiếng mơ hồ: "Ngoại..."
Tôi sững sờ.
Con bé chưa từng thấy dáng vẻ chống gậy của ông ngoại. Vì cha không bao giờ chống gậy ra ngoài, trước mặt người ngoài ông luôn cố gượng. Chỉ ở trong nhà, trước mặt chúng tôi, ông mới bộc lộ sự thảm hại của cái chân tật nguyền đó.
Tiểu Nhĩ Đóa đã ghi nhớ điều đó trong ba tháng ở quê. Lúc đó chúng tôi vừa trốn khỏi nhà Trương Đào, không có chỗ nào để đi, chỉ đành về nhà mẹ đẻ. Dù sắc mặt cha không vui, nhưng vẫn cho chúng tôi ở lại. Mỗi sáng, ông sẽ chống gậy từ trên lầu xuống, từng bước từng bước lết vào bếp, đun cho mình một ấm nước sôi. Tiểu Nhĩ Đóa khi đó vừa mới tập đi, luôn đi theo sau lưng cha, học ông chống một chiếc gậy gỗ nhỏ, đi từng bước khập khiễng.
Cha không bao giờ quay đầu nhìn con bé, nhưng mỗi lần đi hết cầu thang, ông sẽ dừng lại, đợi Tiểu Nhĩ Đóa cũng "đi" đến bậc cuối cùng, rồi mới tiếp tục đi tiếp.
Tôi nhìn chằm chằm vào bức tranh đó, mắt bỗng dưng cay xè.