“Người chàng ấy nhìn không phải là ta.” Tôi bước vào trong tuyết, bông tuyết rơi trên mặt ô, kêu xào xạc, “Thứ chàng nhìn là tước vị của Quốc công phủ, là cuộc sống gấm vóc lụa là, là tất cả những gì chàng từng dễ dàng có được nhưng lại tự tay đá/nh mất.”
“Thế nhưng…”
“Dương Liễu,” tôi dừng bước, quay đầu nhìn cô ấy, “Cô còn nhớ lúc mẹ ta ra đi, bà đã nói gì với ta không?”
Đôi mắt Dương Liễu đỏ hoe: “Nhớ ạ. Phu nhân nói, xót thương đàn ông chính là khởi đầu của sự xui xẻo.”
“Đúng vậy.” Tôi mỉm cười, xoay người tiếp tục bước đi, “Cho nên ta không thể xót thương. Chỉ cần xót thương thôi là đã thua rồi.”
Ba năm sau vào mùa xuân, tại sân sau của cửa hàng tơ lụa mới mở ở Giang Nam, tôi nhận được một bức mật thư từ Kiềm Châu.
Thư do Trần chưởng quỹ viết, rất ngắn gọn.
Liễu Y Y đã b/ệnh ch*t vào năm thứ hai lưu đày.
Kiềm Châu khổ ải lạnh lẽo, nàng ta lại là thân mình tiểu thư đài các, một trận cảm phong hàn cũng đủ lấy mạng.
Khi ch*t, bên cạnh đến một chiếc chăn tử tế cũng không có.
Thẩm Nghiên lê đôi chân què, đào đ/á ở mỏ suốt hai năm.
Mùa đông năm ngoái, hang mỏ sập, chàng bị ch/ôn vùi trong đó, lúc đào lên thì đã tắt thở.
Nghe nói trước khi ch*t, chàng cứ gọi tên tôi mãi, gọi suốt cả đêm cho đến khi cổ họng khản đặc, không còn phát ra được âm thanh nào nữa.
Mẹ chồng đã “đột ngột phát b/ệnh” mà qu/a đ/ời ngay đêm bị tịch thu gia sản.
Quốc công gia nhiễm b/ệnh dịch trên đường lưu đày, không trụ được đến Kiềm Châu. Tĩnh Quốc công phủ huy hoàng ngày nào, nay chỉ còn lại một đống xươ/ng khô, vương vãi nơi núi hoang rừng vắng không tên.
Tôi gấp lá thư lại, bước ra ngoài hành lang.
Gốc hải đường Tây phủ trong sân đang nở rộ, cánh hoa rơi trước bài vị của mẹ thành một lớp dày đặc. Tôi nhặt một cánh hoa đặt vào lòng bàn tay, cánh hoa hồng trắng, mềm mại, mang theo hơi ấm của tiết xuân.
Dương Liễu khẽ hỏi: “Tiểu thư, những cửa tiệm, điền trang của Tĩnh Quốc công phủ... quan phủ đã hoàn trả, người còn muốn giữ lại không?”
“Giữ.” Tôi rải cánh hoa vào trong gió, “Đổi thành thiện đường đi. Thu nhận những nữ tử không nhà không cửa, dạy họ biết chữ, biết tính toán, biết nghề nghiệp.”
“Nghề nghiệp ạ?”
“Ừm.” Tôi nhìn ra phía xa, trời rất xanh, mây rất nhạt, “Thêu thùa cũng được, dệt vải cũng được, tính toán cũng được... tóm lại phải dạy cho họ cách sống khi không có đàn ông, và sống thật tốt.”
Giống như năm xưa mẹ đã dạy tôi vậy.
Dương Liễu đáp “Vâng”, rồi xoay người đi sắp xếp.
Tôi đứng một mình ngoài hành lang rất lâu, cho đến khi hoàng hôn buông xuống, nhuộm hoa hải đường thành một màu vàng nhạt.
Gió thổi qua, cuốn những trang sổ sách lật xào xạc.
Trang mới nhất là kế hoạch mở rộng của Cẩm Thư Các trong năm tới: phía Bắc đến tận biên quan, phía Nam đến tận cảng biển, con đường thương mại Tây Vực đã thông suốt, đội tàu ra nước ngoài tháng sau sẽ khởi hành.
Còn tên của tôi, Lục Nguyễn, cuối cùng cũng chỉ thuộc về chính mình.
“Mẹ à,” tôi nói khẽ với bài vị, “Mẹ nhìn thấy chứ?”
“Con không làm mất đi khí phách của mẹ, cũng không trở thành xiềng xích của bất cứ ai.”
“Con sẽ mang theo tất cả những gì mẹ dạy, sống thật tốt.”
Một cánh hoa hải đường lại rơi xuống, rơi trúng ba chữ “Cẩm Thư Các”.
Tôi đưa tay gạt đi, đầu ngón tay chạm vào cánh hoa, rất mềm, rất ấm.