Ngày thành hôn được định vào mùa xuân.
Địa điểm-- Bắc Cảnh.
Trên thành lầu Hổ Môn Quan.
Ba mươi vạn tướng sĩ dàn trận dưới chân thành.
Đại kỳ phấp phới.
Tiếng trống rung chuyển đất trời.
Ta mặc một bộ giá y màu đỏ, đứng trên thành lầu.
Bùi Uyên mặc hỷ phục màu đỏ, đứng cạnh ta.
Chàng nghiêm chỉnh hơn ngày thường rất nhiều.
Nhưng đôi tai đã đỏ ửng.
“Căng thẳng sao?”
“Nàng mới căng thẳng ấy.”
“Tai chàng đỏ kìa.”
“Do gió thổi đấy.”
Tư nghi cất tiếng hát lễ.
“Nhất bái thiên địa--”
Ba mươi vạn người dưới thành đồng thanh hô vang.
Tiếng vang vọng tận trời cao.
“Nhị bái cao đường--”
Trên vị trí cao đường đặt hai bức họa.
Một bức là cha ta, Cố Hoài Cẩn.
Một bức là cha của Bùi Uyên, Bùi Liệt.
Hai vị cố nhân, hai mươi năm trước từng sát cánh chiến đấu tại Bắc Cảnh.
Hai mươi năm sau, con cái của họ đã kết thành phu thê trên cùng một mảnh đất.
“Phu thê giao bái--”
Bùi Uyên quay sang ta.
Ta quay sang chàng.
Bốn mắt nhìn nhau.
Chàng đưa tay ra.
Ta đặt tay mình vào lòng bàn tay chàng.
“Cố Niệm.”
“Ừm.”
“Ta sẽ luôn đứng bên cạnh nàng.”
“Ta biết.”
“Bất kể nàng là Đại đô hộ, Hộ Quốc phu nhân, hay chưởng môn Cố gia--”
“Trong lòng ta, nàng chỉ là Niệm Niệm.”
Sống mũi ta cay cay.
“Bùi Uyên.”
“Ừm.”
“Bớt nói nhảm đi. Bái đường thôi.”
Chàng cười.
Ba mươi vạn người dưới thành lại đồng thanh hô vang.
Tiếng như sấm dậy.
Ở đường chân trời phía xa, những ngọn núi tuyết Bắc Cảnh sừng sững uy nghiêm.
Ánh nắng chiếu trên đỉnh tuyết, ánh vàng vạn trượng.
Tiệc tối bày ra ba trăm bàn.
Trải dài từ đại trướng Hổ Môn Quan đến tận cánh đồng hoang ngoài thành.
Có rất nhiều người đến.
Các tướng lĩnh Bắc Cảnh. Thẩm Tranh, con trai của Trần Hoài An, thủ tướng các thành.
Người từ kinh thành đến cũng không ít.
Thái phó Lâm Đạo Viễn đưa phu nhân tới. Lâm phu nhân đã hoàn toàn bình phục, hồng hào rạng rỡ.
Lão thái quân cũng đến. Tám mươi lăm tuổi, ngồi xe ngựa chạy suốt ba ngàn dặm. Không ai cản nổi bà.
Tiêu Hành cũng tới.
Chàng mang theo một xe quà, vận chuyển từ kinh thành đến tận Bắc Cảnh.
Trên danh sách quà tặng viết:
“Lợi nhuận ròng năm năm của ba chi nhánh Túy Tiên Cư-- tất cả quy đổi thành vàng, tổng cộng một vạn tám ngàn lượng. Phụ lục: cổ tức tiệm tơ lụa sáu ngàn lượng. Cổ tức bến tàu Lạc Hà một vạn lượng. Cổ tức buôn b/án da lông tám ngàn lượng. Tổng cộng bốn vạn hai ngàn lượng.”
“Trên đây là tổng thu nhập năm năm từ các sản nghiệp dưới tên Cố Niệm. Không động đến một phân, sổ sách đính kèm theo thư.”
“Tặng thêm: một đấu trân châu Nam Hải, một trăm xấp gấm Tây Vực, ba bức tranh chữ của danh gia tiền triều.”
“Chúc tân hôn hạnh phúc.”
Ta nhìn tờ danh sách này, không nói nên lời.
Tiêu Hành đứng đối diện, mỉm cười.
“Năm xưa khi nàng để ta quản lý những sản nghiệp này, ta đã nghĩ-- sớm muộn gì cũng phải trả lại cho nàng.”
“Điện hạ--”
“Đừng gọi điện hạ nữa.” Chàng xua tay, “Năm năm rồi. Nàng gọi tên ta là được.”
“Tiêu Hành.”
“Ừm.”
“Cảm ơn.”
“Không có chi.”
Chàng nâng chén rư/ợu lên.
“Cố Niệm, chúc mừng nàng.”
“Đã tìm được người đáng để trao gửi.”
Chàng uống cạn rư/ợu, quay người rời đi.
Đi được vài bước lại dừng lại.
“Đúng rồi.”
“Ừm?”
“Lão thái quân bảo ta nhắn với nàng một câu.”
“Câu gì?”
“Bà ấy nói-- 'Thấy chưa. Lão thân nhìn người chuẩn hơn nàng nhiều'.”
Ta bật cười.
Chương 30
Mười năm sau.
Bắc Cảnh đã liên tục mười năm không có chiến sự.
Không phải vì kẻ địch không muốn đá/nh.
Mà vì không đá/nh lại.
Ta ngồi trên thành lầu Hổ Môn Quan, trong tay cầm một lá thư.
Lá thư đến từ kinh thành.
Thái tử-- không đúng, giờ phải gọi là Hoàng đế-- Tiêu Cảnh đích thân viết.
Hoàng đế cũ đã băng hà năm ngoái.
Thái tử đăng cơ, đổi niên hiệu Vĩnh An.
Đạo chỉ dụ đầu tiên của vị Hoàng đế mới--
Phong Bắc Cảnh Đại đô hộ Cố Niệm làm Nhất đẳng Trấn Quốc công, thế tập võng thế.
Đây là vị nữ Quốc công đầu tiên trong lịch sử Đại Tề.
Cuối lá thư, Tiêu Cảnh viết một dòng chữ nhỏ:
“Cố công, Bắc Cảnh có người, trẫm gối cao không lo.”
“Chỉ mong Cố công tự trọng, sống lâu trăm tuổi.”
Ta gấp lá thư lại, nhét vào trong tay áo.
Phía sau truyền đến tiếng bước chân.
Hai đứa trẻ chạy tới.
Đứa lớn bảy tuổi, đứa nhỏ năm tuổi.
Cả hai đều giống Bùi Uyên-- nghịch ngợm không chịu nổi.
“Mẹ! Cha lại dạy lính lười biếng rồi!”
“Ta không lười!” Giọng Bùi Uyên vọng lên từ dưới chân thành, “Đó gọi là làm việc kết hợp nghỉ ngơi!”
“Đó gọi là trốn việc!” Đứa con lớn không chút nể nang.
Bùi Uyên leo lên thành lầu, mồ hôi nhễ nhại.
“Nàng xem con trai nàng dạy đấy. Bảy tuổi đã biết cáo trạng.”
“Giống chàng.”
“Rõ ràng giống nàng-- hồi nhỏ nàng cũng hay cáo trạng.”
“Ta cáo trạng khi nào--”
“Năm nàng bảy tuổi, nàng mách cha nàng là ta tr/ộm ngựa gỗ của nàng. Con ngựa gỗ đó rõ ràng là ta tự làm--”
“Đó là của ta.”
“Là của ta.”
Hai đứa trẻ đứng bên cạnh nhìn chúng ta cãi nhau, cười khoái chí.
Lá cờ trên thành lầu bay phấp phới trong gió.
Lá cờ lớn chữ “Cố”, mười năm qua chưa từng hạ xuống.
Người đứng dưới cờ thay đổi hết đợt này đến đợt khác.
Nhưng lá cờ vẫn là lá cờ đó.
Ngọn núi tuyết phía xa vẫn sừng sững uy nghiêm.
Ánh nắng chiếu trên thành tường, ấm áp lạ thường.
Ta tựa vào thành tường, nhìn mảnh đất mà ta đã canh giữ suốt mười năm.
“Bùi Uyên.”
“Ừm.”
“Nàng nói xem-- cha ta nhìn thấy những điều này, ông ấy sẽ nghĩ gì?”