“Đây là sổ sách phí thuyền của vụ án Nghĩa Thương nhà họ Thẩm ở Giang Châu hai mươi năm trước.”
Ánh mắt Hạ Sùng Minh trầm xuống.
“Năm đó thuyền gạo nhà họ Thẩm đáng lẽ phải cập thẳng kho Lăng Thủy, lại phát sinh thêm một khoản bạc đỗ đêm ở Thanh Thạch Độ; vụ án gạo cống nhà họ Tống năm nay, cũng có một khoản bạc đỗ đêm ở Thanh Thạch Độ. Hai mươi năm trước, gạo mới của nhà họ Thẩm đến kho lại thành gạo cũ; năm nay, mẫu gạo cống của nhà họ Tống cũng bị hun thành gạo cũ.”
Ta ngẩng đầu nhìn Hạ Sùng Minh: “Hạ đại nhân, những sự trùng hợp trên đời này, liệu có thể theo quy củ của Lễ bộ mà đăng ký vào sổ sách được không?”
Lời này vừa dứt, trong đường im phăng phắc.
Hạ Sùng Minh chậm rãi đặt chén trà xuống.
“Bùi phu nhân, nàng đang nói bản quan sao?”
Ta không lùi bước: “Ta đang hỏi về sổ sách.”
Ông ta nhìn ta, ánh mắt cuối cùng cũng lạnh đi.
“Sổ sách cũ hai mươi năm trước, giấy ố vàng, dấu vết tàn khuyết, một nữ nhi thương hộ như nàng, dựa vào đâu mà khẳng định Thanh Thạch Độ có tráo kho?”
Ta vừa định mở miệng, bên ngoài đường bỗng có người cao giọng nói: “Ta có thể làm chứng!”
Mọi người quay đầu lại, nhìn thấy một lão lái thuyền què chân được nha dịch dìu vào.
Ông ta ướt sũng toàn thân, trong tay ôm một mảnh ván thuyền cũ. Ta nhận ra ông ta, ông ta là khách quen thường đến quán cháo, họ Chu, ngày thường luôn ngồi ở vị trí gần cửa nhất, uống một bát cháo, đưa hai đồng xu, chưa bao giờ nói nhiều.
Ông ta quỳ giữa đường, giọng khàn đặc.
“Hai mươi năm trước, gạo nhà họ Thẩm chính là bị tráo ở Thanh Thạch Độ.”
Ta không ngờ lão Chu lại đến, càng không ngờ ông ta lại liên quan đến vụ án cũ của nhà họ Thẩm.
Đại Lý Tự khanh hỏi: “Ngươi là người phương nào?”
Lão Chu dập đầu một cái.
“Thảo dân Chu Cừ, hai mươi năm trước là thủy thủ trên thuyền gạo nhà họ Thẩm.”
Hạ Sùng Minh nheo mắt: “Đã là người của hai mươi năm trước, sao đến hôm nay mới xuất hiện?”
Lão Chu ngẩng đầu, trên mặt ông ta đầy nước mưa, không phân biệt được là nước hay lệ.
“Bởi vì những người xuất hiện năm đó, đều đã ch*t cả rồi.”
Trong đường xôn xao, lão Chu ôm ch/ặt mảnh ván thuyền.
“Sau khi Thẩm lão gia kêu oan, những người trên thuyền biết chuyện tráo kho, một người rơi xuống nước, một người b/ệnh ch*t, một người bị bắt đi sung quân, thảo dân g/ãy chân, giả đi/ên giả dại mới sống sót được.”
Ông ta dâng mảnh ván thuyền lên: “Đây là ván đáy khoang của con thuyền gạo năm đó.”
Nha dịch nhận lấy, đưa lên án trước. Bên trong mảnh ván thuyền khắc mấy vạch kẻ rất nhạt. Ta tiến lại gần nhìn, hơi thở bỗng khựng lại.
Đó không phải vết xước bình thường, mà là vạch kẻ xếp chồng bao gạo.
Khi thuyền gạo bốc hàng, để phòng chủ thuyền tự ý tráo hàng, kế toán già sẽ khắc vạch áp hàng lên ván khoang. Khi thuyền đến kho, nếu số lượng bao gạo không khớp, vạch áp hàng sẽ lộ ra.
Lão Chu chỉ vào một trong những vạch kẻ.
“Gạo nhà họ Thẩm khi lên thuyền ở Giang Châu, đ/è đến vạch này.”
Ông ta lại chỉ vào một vạch khác: “Nhưng khi Thanh Thạch Độ khởi hành lại, chỉ đến vạch này.”
Thiếu mất đúng một tầng.
Hạ Sùng Minh lạnh lùng nói: “Một mảnh ván thuyền cũ cũng có thể làm chứng sao?”
Lão Chu r/un r/ẩy tay, lấy từ trong ngựk ra nửa mảnh thẻ gỗ. Trong chiếc hộp mẹ ta đưa cho ta, cũng có nửa mảnh thẻ g/ãy. Ta lập tức lấy nửa mảnh đó ra.
Hai mảnh thẻ gỗ ghép lại với nhau, phía trên vừa vặn là số hiệu thuyền gạo nhà họ Thẩm.
【Giang Châu Thẩm thị, thuyền Giáp Ba.】
Lão Chu nhìn thấy nửa mảnh thẻ gỗ đó, bỗng nhiên nước mắt giàn giụa.
“Thẩm cô nương vẫn còn giữ.”
Thẩm cô nương mà ông ta nói, chính là mẹ ta.
Lão Chu dập đầu thật mạnh về phía ta.
“Thảo dân những năm qua không dám tìm Tống phu nhân, chỉ dám nhìn từ xa ngoài quán cháo, Bùi phu nhân treo tấm bảng đó, viết người sống quan trọng hơn sổ sách, thảo dân mới biết, nhà họ Thẩm vẫn còn người dám nói câu này.”
Ta không nói gì, hóa ra bát cháo nóng ở quán cháo kia, đã đợi được nhân chứng của hai mươi năm trước quay về.
Hạ Sùng Minh cười một tiếng: “Một màn nhận người thân thật hay.”
Ông ta ngước mắt nhìn Đại Lý Tự khanh: “Nhân chứng đã già, vật chứng tàn khuyết, nếu dựa vào những thứ này mà lật lại vụ án đã định hai mươi năm trước, thì pháp độ triều đình ở đâu?”
Ta quay đầu nhìn ông ta: “Hạ đại nhân nói đúng, cho nên ta còn bằng chứng thứ ba.”
Bằng chứng thứ ba không nằm trong tay ta, mà nằm trong tay Bùi Quan Lễ. Theo lệnh tránh hiềm nghi, hắn không thể làm chủ thẩm, không thể hỏi vụ án, thậm chí không nên chủ động dâng bằng chứng, cho nên khi ta nhìn về phía hắn, hắn chỉ ngồi ở hàng ghế nghe, tĩnh lặng như một pho tượng ngọc.
Hạ Sùng Minh nhìn theo ánh mắt của ta, khóe môi hơi nhếch lên.
“Bùi đại nhân, ngài hiện đang tránh hiềm nghi, tốt nhất đừng phá lệ vì phu nhân.”
Bùi Quan Lễ ngước mắt: “Hạ đại nhân hiểu lầm rồi.”
Hắn lấy từ trong tay áo ra một phong văn thư đã niêm phong, đưa cho nha dịch bên cạnh.
“Vật này hôm qua đã giao cho Đại Lý Tự phong tồn, không phải hôm nay mới tạm thời dâng lên.”
Sắc mặt Hạ Sùng Minh cuối cùng cũng thay đổi.
Đại Lý Tự khanh mở văn thư.
Bên trong là bản dập phê văn cũ của Lễ bộ.
Hai mươi năm trước, khi vụ án Nghĩa Thương nhà họ Thẩm ở Giang Châu kết án, Chuyển vận ty địa phương báo cáo gạo mốc nhập kho, Lễ bộ chiếu theo lệ cũ phúc hạch danh sách lương c/ứu trợ.
Cuối phê văn có một dòng chữ nhỏ.
【Mẫu gạo không sai, cho phép nhập lệ cũ.】
Người ký tên là: Hạ Sùng Minh.
Nhưng thứ thực sự quan trọng không phải cái tên này, mà là một con dấu nhỏ đóng cạnh bốn chữ đó.
【Thanh Thạch phúc nghiệm】
Đại Lý Tự khanh nhìn một lúc, ngẩng đầu hỏi: “Thanh Thạch phúc nghiệm nghĩa là gì?”
Bùi Quan Lễ đứng dậy hành lễ.
“Bẩm đại nhân, theo chế độ cũ của Lễ bộ, nếu mẫu gạo c/ứu trợ địa phương có nghi vấn, có thể thiết lập điểm phúc hạch giữa đường, điểm phúc hạch từ Giang Châu đến kho Lăng Thủy hai mươi năm trước, chính là Thanh Thạch Độ.”