Mẹ ta sờ lên dòng lạc khoản trên trang sổ, ngón tay r/un r/ẩy: "Ông ngoại con viết tiểu danh của mẹ, chưa bao giờ viết chữ này."
Trong phần chú thích của trang sổ có viết một dòng chữ.
【Để lại mười lượng bạc cho con gái út Uyển Nương.】
Khuê danh của mẹ ta là Thẩm Uyển.
Uyển trong từ uyển chuyển, không phải Uyển trong từ uyển ước.
Chỉ một chữ, thứ giả mạo liền lộ ra sơ hở.
Ta cầm trang sổ lên, ngửi thấy một mùi keo phèn nhàn nhạt.
Giấy cũ có thể hun khói, lỗ mọt có thể dùng kim nóng châm, mực cũng có thể làm cho cũ đi.
Nhưng kế toán tiệm gạo để chống ẩm, thường dùng nước cơm để bồi giấy.
Sổ sách cũ thực sự để hai mươi năm, gặp nhiệt sẽ có mùi chua nhẹ của gạo. Cuộn sổ này không có, chỉ có mùi keo mới.
Đến giữa trưa, Triệu Ngự sử tới.
Ông ta không mặc quan phục, chỉ mang theo một tùy tùng, đứng trước cửa quán cháo nhìn cuộn sổ giả đó.
"Bùi phu nhân, hạ quan hôm qua mới hạch tội Hạ Sùng Minh, hôm nay liền có người đưa đến thứ này."
"Triệu đại nhân nghi ngờ ta tự biên tự diễn?"
Ông ta không phủ nhận: "Người trong triều đình, vở kịch nào cũng đã từng thấy qua."
Ta gật đầu, bưng lò lửa ở sân sau ra.
Thanh Hòa lo lắng: "Phu nhân, sổ này không thể đ/ốt!"
"Không đ/ốt."
Ta lấy ra ba tờ giấy: một tờ là sổ cũ thật của nhà họ Thẩm dưới đáy hòm của mẹ ta, một tờ là cuộn sổ giả đó, và một tờ là giấy mới mà ta bảo Thanh Hòa m/ua tạm đêm qua.
Ta đặt ba tờ giấy lên lửa ấm, không để ngọn lửa chạm vào mặt giấy.
Một lát sau, sổ cũ thật mép hơi cong, trong giấy tỏa ra mùi chua thơm sau khi bị nhiệt; giấy mới giòn, cong nhanh nhất; còn tờ sổ giả kia lại phơn phớt một lớp bóng sáng.
Triệu Ngự sử nhíu mày: "Đây là?"
"Nước keo phèn, kẻ làm sổ cũ sợ giấy bở, nên quét thêm một lớp keo phèn, nhìn thì cũ nhưng thực ra là mới."
Ta lại bảo Thanh Hòa lấy nước sạch, chấm mỗi góc giấy một chút.
Sổ cũ thật thấm nước chậm, vết nước thấm vào trong; giấy mới thấm nước nhanh; còn giọt nước trên sổ giả lại nổi trên bề mặt, như rơi trên lá sen.
Người vây xem dần dần không nói lời nào nữa.
Triệu Ngự sử hỏi: "Những cách này, phu nhân học ở đâu?"
"Trong phòng kế toán."
"Kế toán dạy nàng phân biệt giấy?"
"Không phải."
Ta cuộn sổ giả lại: "Họ dạy ta, sổ sách càng trông có vẻ đầy đủ, càng phải nghi ngờ trước."
Triệu Ngự sử cuối cùng cũng cười một cái: "Câu nói này của phu nhân, rất hợp với Ngự sử đài."
Ta đẩy cuộn sổ giả về phía ông ta: "Vậy Triệu đại nhân có nguyện ý dâng thêm một sớ nữa không?"
"Hạch tội ai?"
"Kẻ đưa sổ giả, hủy chứng không thành, trái lại còn tạo ra ngụy chứng."
Triệu Ngự sử thu lại nụ cười: "Vẫn chưa đủ."
"Cho nên ta phải đi Thanh Thạch Độ."
Ông ta im lặng hồi lâu: "Nếu phu nhân có thể tìm thấy kho thật, hạ quan sẽ đưa nó vào tấu sớ."
Đêm đó, Bùi Quan Lễ và ta đều không ngủ.
Hắn ngồi dưới đèn, vẽ lại bản đồ cũ của Thanh Thạch Độ.
Đoạn sông nào dễ giấu thuyền, kho cũ nào có cửa sau, đoạn bến bãi nào đêm không có người canh giữ, đều được hắn dùng bút chu sa khoanh lại tỉ mỉ.
Ta gục bên án thư nhìn hắn vẽ bản đồ: "Có phải chàng hối h/ận vì đã dạy ta tra sổ sách rồi không?"
Bùi Quan Lễ dừng bút: "Không."
"Nhìn chàng rất giống đang hối h/ận."
Hắn ngước mắt, đáy mắt có tơ m/áu: "Ta chỉ là sợ."
Đây là lần đầu tiên ta nghe hắn tự miệng nói sợ.
"Sợ ta xảy ra chuyện?"
"Ừ."
"Vậy sao chàng còn để ta đi?"
Hắn đặt bút chu sa xuống, hồi lâu sau mới nói: "Vì nàng nói đúng, ta không thể vừa nói nàng có bản lĩnh, vừa chỉ cho phép nàng có bản lĩnh ở nơi an toàn."
Hắn lấy từ trong tay áo ra một chiếc còi đồng nhỏ, đặt vào lòng bàn tay ta: "Đây là thứ ám vệ Đại Lý Tự dùng, gặp nguy hiểm thì thổi."
Ta cố ý hỏi: "Việc này cũng hợp lễ?"
"Không hợp." Hắn dừng lại, "Nhưng hôm nay ta không muốn giảng lễ."
Ta cất còi đồng, lại gấp bản đồ hắn vẽ vào hộp mang theo người.
Trước khi đứng dậy về phòng, hắn bỗng gọi ta lại: "Tống Tri Ninh."
Ta quay đầu, thấy hắn đứng dưới đèn, y phục vẫn chỉnh tề, nhưng giọng nói lại khàn hơn thường ngày một chút: "Sống sót trở về."
Ta cười: "Đợi ta về, chàng phải bóc cho ta một đĩa hạt dẻ đầy."
Hắn đáp rất nhanh: "Được."
Người cuối cùng đi Thanh Thạch Độ không phải chỉ có mình ta.
Trưởng công chúa phái nữ quan trong phủ đi cùng, Đại Lý Tự phái hai ám vệ, Bùi Quan Lễ bảo Thanh Hòa đi theo ta không rời nửa bước.
Hắn không thể đi, lệnh tránh hiềm nghi vẫn còn đó.
Trời chưa sáng, ta đã ra khỏi thành.
Thanh Thạch Độ nằm ở nơi giao nhau giữa ngoại ô kinh thành và đường thủy Giang Nam, những năm trước phồn hoa, nay lại có chút hoang vắng.
Bên bến đò có một kho cũ, niêm phong trên cửa chồng lên nhau mấy lớp cũ mới.
Người của Đại Lý Tự tiến lên kiểm tra niêm phong.
Nữ quan khẽ nói: "Đêm qua mới phong, niêm phong không hư hại."
Ta lại nhìn chằm chằm vào phía dưới cửa kho.
Ở đó có một lớp bột gạo mịn, gió thổi qua liền tán ra ngoài cửa.
Ta ngồi xuống nhón một ít.
Thanh Hòa hỏi: "Phu nhân, sao vậy?"
"Có người đêm qua đã động vào kho."
Nữ quan kinh ngạc: "Nhưng niêm phong không vỡ."
Ta chỉ vào rãnh thoát nước bên cạnh cửa kho.
Thanh sắt ở miệng rãnh có một chỗ bị mài sáng bóng: "Không phải đi vào từ cửa."
Nữ quan bảo một ám vệ quay về bến đò báo tin, người kia cạy miệng rãnh thoát nước.
Bên trong quả nhiên có dấu vết bị kéo lê.
Chúng ta men theo rãnh vào trong, trong kho tối đen như mực.
Hỏa chiết sáng lên, bao tải đầy kho ngay ngắn chỉnh tề, thoạt nhìn không có bất kỳ vấn đề gì.
Nhưng trong không khí không phải mùi gạo, mà là mùi gỗ ẩm, mùi mốc, và một chút mùi khói ngải c/ứu nhàn nhạt.