Thái tử tiền triều ngày càng thất sủng, hạ quyết tâm đá/nh cược một phen, phái sát thủ hòng c/ắt đ/ứt dòng dõi của Bùi Chiêu.
Bùi Chiêu cảnh giác, lại mang theo ki/ếm nên không dễ đối phó.
Vì thế, lưỡi đ/ao của sát thủ dứt khoát đ/âm về phía Bùi Vân Ngạn đang sợ hãi đến đờ người ở bên cạnh.
Nước trà văng tung tóe, ta dùng thân mình che chở nó trong lòng.
Thậm chí, ngay cả khi lưỡi d/ao sắc bén đ/âm thấu tim, ta còn chẳng kịp giãy giụa.
Thái y nói, nếu nhát d/ao đó lệch đi một tấc, ta đã mất mạng rồi.
Những ngày dưỡng thương, ta hầu như không gặp Bùi Chiêu.
Tranh đoạt ngôi vị vốn hung hiểm, chàng bắt đầu lộ rõ tài năng, trở thành người được săn đón nhất.
Những thế gia trước đây không coi trọng chàng nay đều quay giáo quy hàng.
Trong đó, bao gồm cả nhà họ Từ và Từ Thục dung.
Ta nghe cung nữ bàn tán, nói rằng Thất hoàng tử và Từ tiểu thư là chỗ cố giao, chắc hẳn sẽ nối lại tình xưa.
Tiết đầu xuân, tiếng chim họa mi trên hành lang hót vang lảnh Iót.
Mang theo ý tứ cầu hoan mãnh liệt.
Bùi Vân Ngạn thỉnh thoảng đến thăm ta.
Nó mặc gấm vóc thêu chỉ vàng, chiếc khóa trường mệnh khảm mã n/ão trước ngựk va vào nhau kêu lanh lảnh.
Giọng nó đầy vẻ phấn khích:
"Đây là khóa trường mệnh dì Từ tặng con! Dì ấy nói là do thợ giỏi nhất kinh thành làm đó.
"Dì ấy còn hỏi người đã tặng gì cho con.
"Nương thân, người chưa từng tặng Vân Ngạn món quà quý giá như thế này bao giờ."
Lãnh cung lạnh lẽo, thức ăn nóng hổi còn khó ki/ếm.
Vì thế những thứ Bùi Vân Ngạn mặc từ nhỏ, đều là do ta thức đêm dưới ánh đèn dầu, từng đường kim mũi chỉ, tự tay kh//âu vá.
Thật ra ta cũng từng làm khóa trường mệnh, nhưng chỉ là bằng bạc, nó đã sớm không còn đeo nữa.
Ta tựa vào đầu giường, nhìn dáng vẻ múa may quay cuồ/ng của Bùi Vân Ngạn.
Chắc là ảo giác thôi.
Vết thương đ/ao đ/âm nơi tim đã khép miệng dường như lại x/é rá/ch, m/áu đang rỉ ra từng giọt.
Sau khi bắt mạch, thái y viết đơn th/uốc đưa cho thị nữ, nhưng không vội rời đi:
"Bệ hạ nói, thái tử điện hạ mấy ngày nay ngủ không ngon, thường xuyên gặp á/c mộng."
"Muốn có chiếc túi thơm an thần mà người vẫn thường làm cho ngài ấy,
đặt cạnh gối mới có thể ngủ yên."
Ta rủ mắt, đầu ngón tay lướt qua mép giỏ thêu:
"Ngài nói đùa rồi, Thái y viện có vô số cao nhân, lẽ nào không điều trị được chứng á/c mộng của thái tử?"
"Trong túi thơm chẳng qua chỉ là thảo dược an thần thông thường, nếu cần, ta có thể nói cho ngài biết."
Thái y bị chặn họng không nói được gì, đành cáo từ.
Ta vuốt ve chiếc túi thơm làm dở, trong lòng suy tính.
Sắp vào hè, nên cho thêm chút bạc hà, ngải c/ứu để đuổi muỗi.
Ta lén lút quan sát Vân Hi.
Nó rất thông minh, học hành giỏi giang, thường được thầy dạy khen ngợi.
Lúc rảnh rỗi, thích chơi xích đu hoặc thả diều trong sân.
Nó là một đứa trẻ biết tự tìm niềm vui.
Chỉ một mình cũng có thể chơi rất vui vẻ, dường như chẳng cần ai bầu bạn.
Lòng ta chua xót không sao ngăn nổi.
Nó còn nhỏ như vậy, mà dường như đã quen với cuộc sống không có nương thân.
Vì thế ta càng thêm nhút nhát, không dám nhận nhau.
Một buổi chiều nọ, mưa đổ xuống như trút nước.
Vân Hi đi học về không mang ô, cứ thế dầm mưa chạy về.
Ta vội vàng lặng lẽ sai người thay quần áo, nấu canh gừng cho nó.
Theo kinh nghiệm của ta, trẻ con tầm tuổi này dầm mưa, mười phần thì chín phần là sẽ sốt.
Đêm xuống, nó quả nhiên sốt cao.
Khuôn mặt nhỏ nhắn đỏ bừng,
miệng lầm bầm không rõ tiếng.
Ta nghiêng người lắng nghe, thì ra là đang gọi nương.
Mẫu thân lau nước mắt cảm thán:
"Đúng là trẻ con, ngày thường không lộ ra, đến lúc ốm đ/au là lại tìm nương."
Lòng ta đ/au như c/ắt, không còn bận tâm do dự nữa, thức suốt đêm chăm sóc nó.
Ánh nắng ban mai le lói rọi vào song cửa.
Vân Hi tỉnh dậy, nhìn thấy là ta, liền từ từ vùi mặt vào chăn đệm.
Đôi mắt đen láy trong veo của nó rủ xuống, nhỏ giọng cảm ơn ta:
"Làm phiền người rồi.
"Rõ ràng là không muốn gần gũi với con."
Ta ngẩn người, buột miệng nói: "Sao có thể chứ?"
Vân Hi ngước mắt nhìn ta một cái, rồi lại nhanh chóng rủ xuống:
"Con biết điểm tâm ngoại tổ mẫu đưa là do người làm.
"Cũng biết người lén nhìn con đọc sách."
Nó mím môi, giọng nói khàn đi vì sốt nghe đầy vẻ tủi thân, lại như đang dỗi:
"Nếu Vân Hi không ốm, có phải mãi mãi không có cơ hội nói chuyện với nương thân không?"
Ta sững sờ. Một lúc lâu sau, lắp bắp hỏi:
"Con, con làm sao biết ta là nương thân của con?"
"Ngoại tổ phụ nói cho con biết."
"Cũng không đúng," Vân Hi nghĩ ngợi, "Từ nhỏ người đã cho con xem tranh vẽ của nương thân, lần đầu tiên nhìn thấy người, con đã biết rồi."
Nó lén nhìn ta, ánh mắt có chút thấp thỏm.
Không ngờ lại để một đứa trẻ vạch trần lớp giấy cửa sổ này.
Làm nương như ta thật quá không xứng chức.
"Không phải không muốn gần gũi với con," ta vuốt ve gò má mềm mại của nó, khẽ giải thích, "Nương thân nhát gan, sợ Vân Hi oán trách ta, nên không dám nói chuyện với con."
Vân Hi dụi dụi vào lòng bàn tay ta, đôi mắt sáng lấp lánh như cún con.
Lòng ta mềm nhũn thành một vũng nước.
"Xin lỗi con," ta vừa rơi lệ vừa xin lỗi, "Là nương thân không tốt, rời xa con lâu như vậy, khiến con chỉ có thể tự mình thả diều."
Nó lắc đầu, ra dáng người lớn nói:
"Vân Hi không trách người, ngoại tổ phụ nói nương thân ở trong cung đã chịu rất nhiều, rất nhiều khổ cực."
"Nói người vẫn luôn nhớ thương con, nhưng không thể ra ngoài được."
Nói đến đây, Vân Hi đắc ý cười, hất chiếc cằm nhỏ lên:
"Cho nên Vân Hi năm nào cũng cầu Bồ T/át, lấy món bánh sen phật thủ con thích nhất ra đổi, cầu đến ba lần, nương thân liền trở về rồi!"
Ta vừa khóc vừa cười, ôm ch/ặt Vân Hi vào lòng, chân thành khen ngợi nó:
"Vậy phải cảm ơn Vân Hi rồi, nếu không nương thân chắc chắn không về được."
Nó vùi mặt vào lòng ta, như thể đang làm quen với hơi ấm trong lòng ta,
một lúc sau, nhỏ giọng lẩm bẩm.