Trong thư không có nhiều lời trách móc, cũng chẳng có chút oán h/ận nào, ngược lại nó bình thản đến mức khiến tôi càng thấy khó chịu hơn. Cô ấy nói năm tháng đó cô ấy rất mệt, chăm sóc b/ệnh nhân mệt, nói dối mệt, mà nhớ tôi cũng mệt. Cô ấy nói không ngờ vừa về đến nhà, mái ấm đã tan vỡ. Cô ấy còn nói, đơn ly hôn cô ấy đã ký, nhà cô ấy không lấy, xe và tiền tiết kiệm cứ chia theo như cũ là được. Câu cuối cùng là, cảm ơn tôi vì đã cho cô ấy sáu năm.
Tôi đọc xong lá thư, lồng ngựk như bị khoét đi một mảng. Tối hôm đó, tôi quay về căn nhà cũ. Chìa khóa vẫn mở được cửa, nhưng căn nhà dường như đã không còn thuộc về tôi nữa. Trên bàn trà đặt tờ đơn ly hôn đã ký tên, bên cạnh là chiếc chìa khóa cô ấy để lại và một tấm thẻ ngân hàng. Trong tủ quần áo ở phòng ngủ, cô ấy lấy đi phần lớn quần áo, chỉ còn sót lại vài chiếc áo khoác dày, như thể vì vội vàng mà bỏ quên. Trong ngăn tủ gương phòng tắm, chai sữa dưỡng thể hương trà trắng cô ấy hay dùng vẫn còn đó, vặn nắp ra, mùi hương đã nhạt đi nhiều, nhưng vẫn nhận ra được.
Tôi ngồi bên giường rất lâu, cuối cùng cầm lấy chiếc áo len cô ấy để lại, ôm ch/ặt vào lòng, cả đêm không sao chợp mắt.
Sau khi trời sáng, tôi đưa ra hai quyết định.
Thứ nhất, xin nghỉ việc.
Thứ hai, rời khỏi thành phố này.
Ở đây, mỗi con đường đều liên quan đến cô ấy. Quán bánh áp chảo cô ấy thích ăn ở cửa tàu điện ngầm, cửa hàng tầng ba trung tâm thương mại nơi chúng tôi từng cùng chọn rèm cửa, thậm chí công viên nhỏ gần công ty, tất cả đều là kỷ niệm. Con người nếu cứ đắm chìm trong kỷ niệm, sẽ mục nát mất thôi.
Tôi đến Vân Châu.
Một thành phố nhỏ ven biển, nơi này không lớn, nhịp sống chậm rãi như cuộc đời dư thừa của những người khác. Căn nhà thuê nằm trong khu chung cư cũ ven biển, đứng ở ban công có thể nhìn thấy biển. Mỗi sáng gió rất mạnh, khung cửa kính rung lên nhè nhẹ, gió biển mặn mòi thổi vào khiến cả người tỉnh táo hẳn.
Tôi làm thiết kế cho một công ty nhỏ, thu nhập không cao nhưng đủ sống. Ban ngày đi làm, tối đến đi dạo bên bờ biển. Biển Vân Châu không giống phương Bắc, không quá khoáng đạt, cũng chẳng hung dữ, thủy triều lên rồi lại rút, chậm rãi như thể biết rằng có vội vàng cũng chẳng ích gì. Tôi thường ngồi bên tảng đ/á nhìn trời tối, không nghĩ ngợi gì cả, hoặc có thể nói, dù có nghĩ cũng không để tâm.
Nhưng bảo rằng đã hoàn toàn buông bỏ, thì đó là nói dối.
Những tháng đầu mới đến, Hứa Du vẫn thỉnh thoảng đột ngột xâm chiếm cuộc sống của tôi. Chẳng hạn như khi nấu ăn ngửi thấy mùi bò hầm cà chua, tôi lại ngẩn người; chẳng hạn như khi đi ngang qua một cửa hàng văn phòng phẩm, nhìn thấy chiếc bao hộ chiếu màu xanh, tôi lại nhớ đến lúc cô ấy tìm đồ trong nhà trước khi khởi hành; chẳng hạn như một đêm nằm mơ, mơ thấy cô ấy đứng trước cửa ngôi nhà trắng quay đầu gọi tôi, lúc tỉnh dậy gối đã ướt đẫm.
Có lần ở bến tàu, tôi quen A Hải, một người dân địa phương lái thuyền đá/nh cá nhỏ. Anh ta rất thô kệch, ít nói, sau khi quen thân thì hay lấy tôi ra làm trò đùa. Anh ta thấy tôi ngồi thẫn thờ bên bờ biển, đưa cho tôi một điếu th/uốc rồi hỏi: "Vợ bỏ rồi à?"
Tôi đáp: "Cũng coi là vậy."
Anh ta gật đầu, vẻ mặt hiểu rõ: "Vậy với cái bộ mặt này của cậu, phải mất rất lâu mới nguôi ngoai được."
Lúc đó tôi chỉ cười, không đáp lời.
Sau này anh ta trở thành người duy nhất ở Vân Châu mà tôi coi là bạn. Chúng tôi thỉnh thoảng cùng ra khơi, anh ta dạy tôi câu cá, cũng dạy tôi kiểu thời tiết nào thì nên thả lưới, con sóng nào không được liều lĩnh đ/âm đầu vào. Anh ta nói con người cũng giống như biển cả, cậu càng muốn chống đối lại nó, càng dễ bị lật thuyền.
Tôi ghi nhớ điều đó rất lâu.
Một năm sau vào mùa xuân, tôi lại gặp Hứa Du trong trung tâm thương mại. Ngày hôm đó vốn chỉ định đi m/ua đôi giày thể thao, khi đi ngang qua sảnh giữa tầng một, thấy ở đó vây rất đông người. Tôi vốn không định góp vui, nhưng ánh mắt lại khựng lại trên tấm bảng triển lãm.
Người trong ảnh là cô ấy.
Cô ấy mặc sơ mi trắng, ngồi xổm giữa đám trẻ, nụ cười rất dịu dàng. Dòng chữ lớn bên cạnh viết "Hội thảo chia sẻ về nghệ thuật trị liệu". Người dẫn chương trình cầm micro giới thiệu khách mời, khi đọc đến tên cô ấy, tai tôi như ù đi.
Thật sự là cô ấy.
Cô ấy đứng trên sân khấu, g/ầy hơn so với trong ký ức của tôi một chút, cũng gọn gàng hơn, khi nói chuyện rất vững vàng, ánh mắt cũng không còn vẻ mềm yếu như trước nữa. Cô ấy chia sẻ về trải nghiệm học tập ở Melbourne, kể về cách biểu đạt qua hội họa của trẻ em đặc biệt, nói về cách dùng màu sắc thay thế ngôn ngữ, những lời chia sẻ khiến người phía dưới vỗ tay không ngớt.
Tôi đứng ở cuối đám đông, lòng bàn tay nóng dần lên, ngay cả hơi thở cũng không ổn định.
Sau khi cô ấy rời sân khấu, tôi cũng chẳng biết lấy đâu ra dũng khí, liền gọi tên cô ấy.
"Hứa Du."
Cô ấy quay đầu lại, khi nhìn thấy tôi thì rõ ràng sững người.
Những giây đó dài vô tận, dài đến mức tôi có thể nghe thấy nhịp tim của chính mình. Cuối cùng cô ấy vẫn bước về phía tôi, dừng lại trước mặt, khẽ hỏi: "Sao anh lại ở đây?"
"Tôi làm việc ở Vân Châu." Tôi nói.
Cô ấy gật đầu, nói rằng cô ấy đến để giúp bạn làm hoạt động từ thiện, ngày mai sẽ đi ngay.
Chúng tôi rất khách sáo, khách sáo đến mức không giống những người từng chung chăn gối suốt sáu năm. Nói về thời tiết, công việc, nói về gió biển ở Vân Châu rất lớn. Cho đến khi cô ấy phải về khách sạn, tôi đưa cô ấy đi, trên đường cũng chẳng nói được mấy câu. Trước khi xuống xe, tôi hỏi cô ấy: "Chúng ta còn có thể làm bạn không?"
Cô ấy nhìn tôi rất lâu, cuối cùng chỉ lắc đầu.
"Chu Nhiên, chúng ta không quay lại được nữa rồi."
Câu này thực ra tôi đã biết từ lâu.
Nhưng khi nghe chính miệng cô ấy nói ra, vẫn đ/au đớn vô cùng.