Ngày hôm sau ra khơi, gió không lớn, A Hải lái thuyền ra xa một chút, thả lưới rồi bắt đầu câu cá. Tôi dựa vào mạn thuyền sưởi nắng, trên mặt biển có những cánh hải âu đang chao liệng. A Hải hỏi tôi dạo này có đang yêu đương gì không, tôi bảo không. Anh ta nói vậy sao cô gái tóc ngắn ở tiệm của cậu cứ hay chạy đến tìm cậu làm gì. Tôi nói là học lặn. Anh ta cười khẩy, bảo cậu tưởng tôi chưa từng trẻ tuổi chắc.
Tôi cười cười không nói gì.
Giữa tôi và Tô Nguyệt chẳng có gì cả. Không phải không rung động, mà là không dám. Không phải vì sợ bị tổn thương lần nữa, mà vì sợ bản thân vẫn chưa sẵn sàng. Tôi đã mất rất nhiều năm mới học được cách không nhìn chằm chằm vào một người như một điểm trên bản đồ. Nhưng tôi vẫn cần thêm thời gian để học cách dùng một bản thể trọn vẹn của chính mình để đến gần một người khác. Tô Nguyệt rất tốt, hoạt bát, rạng rỡ, giống như mặt biển lúc bảy giờ sáng. Nhưng cô ấy xứng đáng với một người trong sạch hơn.
A Hải đưa th/uốc lá cho tôi, tôi xua tay bảo đã cai rồi. Anh ta ngậm điếu th/uốc mơ hồ nói: "Cậu nhóc này thay đổi nhiều thật."
"Thay đổi tốt hay x/ấu?"
"Chậm đi rồi." Anh ta nói, "Trước đây cậu cứ vội vàng hấp tấp, giờ thì như con rùa biển vậy. Chậm lại cũng chẳng có gì không tốt, cá cứ sống lâu là được."
Tôi bị anh ta làm cho bật cười.
Chiều hôm đó khi thu lưới, chúng tôi kéo lên được mấy con cá không nhỏ, A Hải nhóm một cái bếp than nhỏ trên thuyền, dùng dây thép xiên cá rồi nướng. Th!t cá rất tươi, chỉ cần chấm chút muối là ngon. Chúng tôi uống bia, thổi gió biển, ai cũng không nói gì. Xung quanh chỉ có tiếng sóng vỗ và tiếng cá nướng xèo xèo. Khoảnh khắc đó tôi chợt cảm thấy, những ngày tháng như thế này cũng khá tốt.
Sau này Tô Nguyệt thực sự đến Melbourne. Trước khi đi, cô ấy đến tiệm chào tạm biệt, tặng tôi một hộp bánh quy tự tay làm, nói đến nơi sẽ chụp ảnh gửi cho tôi. Tôi bảo được, chú ý an toàn nhé. Cô ấy đứng ở cửa do dự một chút, hỏi tôi: "Ông chủ, có phải anh từng có một người rất yêu, cũng ở Melbourne không?"
Tôi không giấu cô ấy: "Đúng vậy."
"Vậy tại sao hai người không ở bên nhau?"
"Vì vào lúc chúng ta cần sự tin tưởng nhất, chúng ta lại chọn sự nghi ngờ và giấu giếm."
Cô ấy gật đầu như hiểu như không, cuối cùng nói một câu: "Vậy em đến đó, sẽ xem giúp anh xem mùa xuân ở Vườn Ánh Dương rốt cuộc nở hoa gì."
Sau khi cô ấy đi, tiệm lặn lại trở về sự yên tĩnh. Tôi nhìn hộp bánh quy, mở ra ăn một miếng, vị rất ngon, ngọt vừa vặn.
Cuộc sống vẫn tiếp tục tiến về phía trước.
Việc kinh doanh của tiệm lặn dần ổn định, tôi bắt đầu làm thêm tại một tổ chức từ thiện địa phương, dạy một số trẻ tự kỷ học lặn với ống thở. Những đứa trẻ đó ở dưới nước ngược lại còn tự tại hơn trên cạn, ánh mắt tập trung, động tác bình tĩnh. Có một cậu bé tên Tiểu Thụ, mỗi lần xuống nước đều đặc biệt yên lặng, chỉ nhìn vào cát và cá phía dưới, không hề nhúc nhích. Mẹ cậu bé nói ở trường cậu gần như không nói chuyện, nhưng ở dưới nước có thể ở cả buổi chiều. Tôi ngồi xổm bên hồ nhìn cậu bé, chợt nhớ đến dự án trị liệu nghệ thuật mà Hứa Du từng làm. Cô ấy nói màu sắc có thể thay thế ngôn ngữ, có lẽ nước cũng vậy. Một vài linh h/ồn cần một cách khác để hít thở.
Khi mùa thu sắp kết thúc, tôi nhận được ảnh Tô Nguyệt gửi từ Melbourne. Góc phố Vườn Ánh Dương, bên cạnh hàng rào trắng nở đầy những bông hoa màu tím, cô ấy kéo ống kính lại gần, chụp cận cảnh một bông hoa, trên cánh hoa còn đọng sương sớm. Bên dưới kèm một câu: "Ông chủ anh xem này, mùa xuân thực sự đến rồi."
Tôi chằm chằm nhìn bức ảnh đó rất lâu. Trong lòng rất bình thản, giống như mặt biển ngày hôm đó. Hoa tím đã nở, Vườn Ánh Dương vẫn là Vườn Ánh Dương đó, chỉ là tôi không còn cần phải biết trong đó sống ai nữa. Có những con đường, người khác đã đi qua rồi, phong cảnh cũng để lại ở đó rồi. Bạn đứng từ xa nhìn, thấy mừng cho cô ấy, vậy là đủ rồi.
Tôi trả lời Tô Nguyệt một câu: "Hoa rất đẹp, cảm ơn em."
Cô ấy gửi lại một mặt cười.
Đêm đó tôi ngồi trên ban công, lấy bức tranh màu nước của Hứa Du ra xem lại. Mặt biển, bầu trời, ngọn hải đăng ở Vân Châu. Cô ấy vẽ rất tâm huyết, ngay cả điểm sáng trên sóng nước cũng được chấm tỉ mỉ. Tôi lau khung tranh, treo lên tường phòng ngủ. Không phải vì không buông bỏ được, mà vì đó thực sự là một bức tranh đẹp. Những thứ tốt đẹp, xứng đáng được lưu lại trong tầm mắt.
Sau này có một lần Thẩm Vi đi công tác ở Vân Châu, tiện đường ghé thăm tôi. Chúng tôi ăn cơm ở quán hải sản bình dân gần tiệm lặn, uống một chút rư/ợu. Cô ấy nói triển lãm tranh của Hứa Du tổ chức rất thành công, tranh b/án được không ít, tiền đều quyên góp cho các tổ chức từ thiện trẻ em. Cô ấy còn nói chồng của Hứa Du là bác sĩ ở Côn Minh, đối xử với cô ấy rất tốt, hai người đang chuẩn bị có con.
"Còn anh thì sao?" Thẩm Vi đặt ly rư/ợu xuống nhìn tôi, "Vẫn một mình à?"
"Một mình cũng tốt mà."
"Tốt cái gì mà tốt, anh sắp ba mươi lăm tuổi rồi đấy."
"Ba mươi lăm thì sao, tôi đâu có vội."
Cô ấy thở dài, không khuyên nữa. Một lát sau cô ấy lại nói: "Thực ra Hứa Du vẫn luôn muốn nói rõ ràng với anh. Lần đó anh đến tìm cô ấy, ở b/ệnh viện, sau đó cô ấy đã khóc rất lâu. Không phải trách anh, mà là thấy tiếc. Hai người rõ ràng ai cũng không có tâm địa x/ấu, chỉ là thiếu chút may mắn mà thôi."
Tôi uống một ngụm rư/ợu, không nói lời nào.