Cảnh sát rời đi, tôi đóng cửa tiệm.
Tôi không nói thật. Lâm Nguyệt lần cuối không đến chỗ tôi, mà là nhà máy bỏ hoang phía tây thị trấn.
Hôm đó, dù không b/án cho cô nến hỷ, nhưng tôi dùng nến đen giúp cô tìm manh mối về đứa em gái.
Khói nến hiện lên hình ảnh em gái cô bị trói trong nhà máy, bên cạnh có một người đàn ông.
Người đàn ông đó tôi quen.
Chu Văn Thanh.
Nhưng chuyện này tôi không muốn dính vào.
Tôi cảnh báo Lâm Nguyệt tuyệt đối đừng đi một mình, phải báo cảnh sát ngay để họ đến nhà máy.
Rõ ràng cô ta không nghe theo.
Nửa đêm, có tiếng gõ cửa.
Tiếng gõ gấp gáp, ba dài hai ngắn.
Tôi thắp nến đen, bước đến cửa.
"Ai đó?"
Bên ngoài im lặng.
Tôi nhìn qua khe cửa. Con hẻm tối om, chỉ còn ngọn đèn đường với ánh sáng vàng vọt.
Dưới đèn có một bóng người đang đứng.
Khoác áo hoodie đen, mũ trùm kín đầu, không thấy rõ mặt.
Ngọn lửa nến chuyển xanh lục âm u - màu chỉ xuất hiện khi nến đen thông linh. Người này không ổn.
Tôi đặt nến xuống, tay kia rút con d/ao c/ắt.
Mở cửa bước về phía người lạ.
Dưới ánh đèn vàng vọt, kẻ kia bất động.
Không do dự nữa, tôi phóng d/ao đ/âm thẳng.
Cảm giác lạ, bên trong rỗng không.
Là một tấm da người.
Nhìn từ xa dưới ánh đèn mờ, đúng là giống y người thật.
Tôi cúi xuống xem.
Mặt tấm da chi chít lỗ kim, từ các lỗ rỉ ra chất bẩn đen đỏ.
Lật mặt sau, trên da viết một dòng chữ m/áu nhỏ:
"Trần Hỷ, da ông nội mày ở đây."
Đầu óc tôi "ong" một tiếng.
Ông mất mười năm, da hẳn đã mục nát. Trừ phi...
Tôi chợt nhớ câu trong "Chúc Kinh": "Da còn h/ồn tại, trăm năm không rữa."
Lẽ nào da ông thật sự bị l/ột đi luyện thành bì q/uỷ?
Tôi vớ lấy nến đen và d/ao c/ắt, phóng khỏi cửa tiệm.
Phải về kiểm tra phần m/ộ tổ.
Nếu m/ộ trống không...
Tôi không dám nghĩ tiếp.
Gió lạnh thổi qua, gáy bỗng lạnh toát.
Quay lại, phía sau trống trơn.
Tấm da người ấy đã biến mất.